Thứ Sáu, 11 tháng 4, 2014

Thứ Ba, 8 tháng 4, 2014

Từ Thép đã tôi thế đấy đến Nhật ký Đặng Thùy Trâm, những ước mơ bị phản bội.

"Ôi miền Bắc xa xôi bao giờ ta trở lại?"

Đó là dòng chữ hay tiếng nấc cuối cùng của một bác sĩ 28 tuổi ghi lại trong nhật ký của chị ngày 16 tháng 6 năm 1970. Một tuần sau, chị bị một đơn vị lính Mỹ phục kích và bị giết. Cuốn nhật ký của chị được chuyển đến Frederic Whitehurst, gọi tắt là Fred, sĩ quan quân báo Mỹ, để phân tích. Và theo đề nghị của Nguyễn Trung Hiếu, một thượng sĩ quân đội Việt Nam Cộng hòa, Frederic Whitehurst đã giữ lại hai cuốn nhật ký thay vì đốt bỏ sau khi không tìm thấy các dữ kiện liên hệ đến tình báo quân sự. Năm 1972, Fred về nước, trong hành lý của anh có thêm hai kỷ vật chiến tranh: hai cuốn nhật ký của bác sĩ Đặng Thùy Trâm.

Mấy chục năm và nhiều lần cố gắng tìm thân nhân của chị Thùy Trâm để hoàn trả không thành công, Frederic Whitehurst đã tặng hai cuốn nhật ký cho viện lưu trữ về Việt Nam Lubblock tại đại học Texas. Trong hội nghị hàng năm về chiến tranh Việt Nam vào trung tuần tháng 3 năm 2005, chính Frederic Whitehurst, chàng sĩ quan quân báo ngày xưa nay trở nên một tiến sĩ hóa học và một luật gia, đã đến dự và lần nữa nhắc đến nhật ký của chị. Cuối cùng, từ phòng họp của Trung tâm Việt Nam thuộc đại học Texas này, một bản sao cuốn nhật ký của chị Đặng Thùy Trâm đã tìm được đường về quê hương sau 35 năm lưu lạc. Ba tháng sau, hai cuốn nhật ký được in chung trong một tác phẩm dưới tựa Nhật ký Đặng Thùy Trâm.

Hành trình của cuốn nhật ký, từ dòng chữ nghiêng nghiêng đầu tiên trên giấy trắng kẻ ô ngả vàng của chị cho đến ngày được in thành sách chẳng khác một cuốn phim truyện với nhiều tình tiết ly kỳ nhưng lại rất thật, rất cảm động và đầy ắp tình người.

Như bụi phong lan sinh ra và dưỡng nuôi bằng những hạt mưa rừng trên nhánh sồi khô giữa rặng Trường Sơn, nhật ký của chị Thùy Trâm sống sót trong khói lửa đạn bom do bàn tay săn sóc của đại diện cho cả ba bên tham dự cuộc chiến tranh tàn khốc nhất trong lịch sử Việt Nam. Ba yếu tố: những dòng chữ chân thành có một chút mộng mơ của nữ bác sĩ trẻ tuổi, lòng nhân hậu của người lính miền Nam và sự trân trọng của viên sĩ quan quân báo Mỹ, đã gặp nhau như một nhân duyên kỳ diệu để ngày nay Nhật ký Đặng Thùy Trâm, dấu tích của một cuộc chiến tranh tàn khốc, có mặt trong tủ sách chúng ta. Điều đó cho thấy, những ý nghĩ chân thành, những rung động thật từ trái tim bao giờ cũng dễ được cảm thông, không chỉ trong những người cùng thời, cùng chiến tuyến mà ngay cả những người đứng bên kia chiến tuyến.

Trong hai tháng qua, Nhật ký Đặng Thùy Trâm được xem là cuốn sách bán chạy nhất tại Việt Nam. Theo báo Tuổi Trẻ, chỉ trong vòng một tuần lễ, 14.200 cuốn đã được bán ra, riêng trong ngày Chủ nhật 31 tháng 7 đã phát hành 3.800 cuốn. Theo tổng kết mới nhất, Nhật ký Đặng Thùy Trâm đã vượt tất cả kỷ lục sách Việt Nam với hàng trăm ngàn cuốn được in trong một thời gian rất ngắn. Đây không phải là lần đầu tiên một nhật ký chiến tranh được in ra, nhưng chưa nhật ký nào trở nên một hiện tượng trong sinh hoạt văn học và tạo nên một làn sóng tình cảm mạnh mẽ trong nước như nhật ký của chị Thùy Trâm. Tại sao? Ngoài những suy nghĩ chân thành chị viết ra, một phần không nhỏ bởi vì chị là một trí thức trẻ, một người con gái tuổi hai mươi và hành trình khá gian nan của bản thân cuốn nhật ký.

Phản ứng và nhận xét về tác phẩm Nhật ký Đặng Thùy Trâm thì rất nhiều, từ ông cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, ông Thủ tướng Phan Văn Khải đến các nhà văn, nhà thơ, những người bạn cùng chiến đấu với chị trước đây và ngay cả một người như tôi, nhỏ hơn chị hơn một giáp tuổi và sống xa nửa vòng trái đất, cũng muốn viết vài cảm nghĩ về chị.

Đối với các cấp lãnh đạo Đảng, Đoàn, đây là cơ hội vàng son để đóng khung tô màu lên tấm bảng "Lý tưởng Cộng sản" mà chính họ cũng cảm thấy ngượng ngùng mỗi khi ngó đến. Ông Phan Văn Khải, trong lá thư gởi báo Tuổi Trẻ ngày 4 tháng 8 viết: "Tôi nhớ lại điều đã nêu thành chủ đề của bài phát biểu nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước: "Đưa đất nước tiến kịp thời đại với ý chí mãnh liệt như ý chí giành độc lập thống nhất". Tấm gương của Thùy Trâm và Thạc làm cho khát vọng đổi mới và phát triển đất nước càng thấm sâu trong mọi người Việt Nam ở trong nước cũng như nước ngoài, tạo khí thế mới trong lao động học tập và rèn luyện vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc".

Trên báo Tuổi Trẻ ngày 23 tháng 8 năm 2005, ông cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu cũng viết những lời kêu gọi thanh niên như được trích ra từ một nghị quyết nào đó: "Lớp tuổi 20 hiện nay hãy thể hiện lòng biết ơn, sự ngưỡng mộ của mình với những người đi trước, những anh hùng, liệt sĩ bằng hành động và trái tim của tuổi trẻ. Đó là sự cống hiến sức lực, trí tuệ, tài năng của mình cùng cả dân tộc đưa Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới, đưa vinh quang, hạnh phúc cho mọi người, của mọi người. Nối tiếp truyền thống anh hùng của cha anh, góp phần vào thắng lợi của công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm cho dân tộc ta bước lên lâu đài hạnh phúc. Đó chính là giá trị đích thực của lẽ sống tuổi trẻ Việt Nam trong thời kỳ mới."

Những khẩu hiệu tuyên truyền thời chiến tưởng đã quên đi chợt bừng bừng sống dậy. Gần hai tháng qua, báo lớn, báo nhỏ, báo già, báo trẻ trong nước, những bài viết nặng mùi tuyên truyền lại được đăng ngay trên trang nhất để ca ngợi chị Đặng Thùy Trâm.

Thế nhưng không phải ai cũng nhắm mắt vỗ tay theo những lời hô hào, ngợi ca sáo rỗng "Đưa đất nước tiến kịp thời đại", "Chủ nghĩa anh hùng cách mạng", "Bước lên lâu đài hạnh phúc"… của ông cựu Tổng Bí thư và ông Thủ tướng, những tiếng nói bộc trực, thẳng thắn của những người cùng thế hệ với chị Thùy Trâm cũng vang lên từ trong nước như những lời cảnh giác dành cho thế hệ trẻ.

Báo Tuổi Trẻ ngày 7 tháng 8 ghi lại câu trả lời của nhà văn Bảo Ninh: "Lần đầu tiên nhìn thấy cuốn nhật ký, tôi đã rất xúc động. Đó là một phần tuổi trẻ của tôi. Đó là những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời tôi. Cái đẹp của sự xả thân. Cái sự xả thân của chị Trâm, anh Thạc hồi ấy sao mà đơn giản thế. Đừng vội gán cho chị Trâm những lý tưởng to tát như vì Đảng, vì dân, cũng đừng cường điệu chị lên, đừng bắt chị phải vác cái huy hiệu "anh hùng". Bởi theo tôi, chị rất đỗi bình thường. Trước cái chết, nếu "không run sợ" tức là đang nói dối! Có lẽ chị Trâm chỉ nghĩ đơn giản là mình nổ súng đánh lạc hướng thì mấy người thương binh sẽ có chút thời gian chạy vào rừng... Phản ứng của độc giả trẻ là hoàn toàn chân thật. Đừng nghĩ thanh niên Việt Nam không thèm quan tâm đến quá khứ mà chẳng qua vì "chúng" không thích những bài giảng sáo rỗng đấy thôi!"

Nhà thơ Bùi Minh Quốc viết trên talawas: "Tôi, người may mắn sống sót sau những hy sinh của Dương Thị Xuân Quý, Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Giá, Chu Cẩm Phong cùng hàng triệu đồng bào đồng chí của tôi, từ 1975 trở đi càng ngày càng thấy nhân dân tôi đã lâm vào một bi kịch thê thảm nhất, cay đắng nhất, quái gở nhất: vì độc lập tự do mà cuồng nhiệt tự nguyện dốc cả sông máu núi xương để rồi “tự do” tự nguyện choàng lên cổ mình một cái ách nô lệ “vàng son” mang tên là sự lãnh đạo của Đảng, mà thực chất chỉ là sự cai trị độc đoán của hơn một trăm Ủy viên Trung ương, thậm chí chủ yếu là mười mấy Ủy viên Bộ Chính trị. Nô lệ đến mức người ta bảo bỏ phiếu cho ai là ngoan ngoãn bỏ cho người ấy, chẳng biết người ấy tốt xấu thế nào. Nô lệ đến mức muốn nói điều mình nghĩ, mình thấy, mình biết cũng không báo nào đăng cho, cỡ như cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt trả lời phỏng vấn mà cũng không được đăng trọn vẹn. Nô lệ đến mức người ta áp đặt cái đường lối sai lầm dựa trên một kiểu lý luận nói lấy được (chữ dùng của tướng Trần Độ) là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” cũng không biết mà cãi, hoặc biết mà không dám cãi, hoặc muốn cãi thì cũng không có diễn đàn mà cãi."

Thật vậy, thế hệ trẻ ngày nay hình như không thể tìm thấy chút thành thật nào từ những kẻ đang sống, đang lãnh đạo đất nước nên quay sang lắng nghe tâm sự của những người chết, vì ít ra, người chết không nói dối và không biết sợ.

Giống như nhà văn Bảo Ninh, nhà thơ Bùi Minh Quốc và có lẽ rất nhiều người khác, tôi đọc Nhật ký Đặng Thùy Trâm với một tấm lòng trĩu nặng. Tôi nghĩ về chị như một người thân dù chúng tôi xa cách nhau về mọi mặt. Tôi hình dung căn hầm nhỏ nơi chị ngồi, mái tóc học trò của chị, những giọt mưa rơi trên mái lá, tiếng trực thăng bay trên đầu. Chị trải lòng mình trên trang giấy trong những phút riêng tư và cô đơn tột cùng như thế. Tương tự như nhận xét của anh cựu chiến binh Mỹ Robert Whitehurst, tôi nghĩ chị không viết để gởi lại cho đời sau, và cũng không cần ai thương hại, xót xa hay vinh danh mình.

Ngọai trừ hai chữ Th. và M., viết tắt tên của chị và người yêu, có lẽ những chữ lập lại nhiều nhất trong hai cuốn nhật ký của chị là hai chữ "buồn" và "nhớ". Ngày 4-6-68, chị viết: "Mưa vẫn cứ rơi hoài. Mưa càng thêm buồn thắm thía, và mưa lạnh làm cho người ta thèm khát vô cùng một cảnh sum họp gia đình. Ước gì có cánh bay về căn nhà xinh đẹp để cùng ba má và các em ăn một bữa cơm rau muống và nằm trong tấm chăn bông ấm áp ngủ một giấc ngon lành", và trong nhật ký ngày 18-12-68 chị viết những dòng rất tội, rất đau: "Đêm nay ngồi trực, ngọn đèn mờ trong căn nhà nhỏ, tiếng rên của người bệnh nhân làm mình buồn lạ lùng. Hơn bao giờ hết nỗi nhớ thương trào lên thiết tha cháy bỏng. Hỡi những người thân yêu, đêm nay có ai hiểu hết lòng mình hay không?"

Không giống như chị Sứ trong Hòn Đất của Anh Đức, chị Diệu trong phim Vĩ tuyến 17 ngày và đêm của Hải Ninh được tiểu thuyết hóa đến mức thần thánh và dàn dựng thành phim ảnh chỉ nhằm mục đích tuyên truyền, chị Đặng Thùy Trâm là một người có thật và chính tay mình ghi lại những suy nghĩ rất thật của mình. Nữ bác sĩ 28 tuổi xinh đẹp và hiền từ Đặng Thùy Trâm đã sống và đã chết trên đất nước Việt Nam thân yêu. Nhật ký chị viết dưới những cơn mưa rừng hòa lẫn tiếng mưa bom ở bịnh xá Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, như số phận giọt nước mưa lăn trên mái tóc học trò của chị, trôi xa nhiều ngàn dặm trước khi về lại với quê hương.

Chị dành trang đầu để trang trọng ghi lại câu văn trích từ tác phẩm Thép đã tôi thế đấy của Nikolai Ostrovsky, một nhà văn Sô-Viết qua đời vì bạo bịnh vào tuổi 32: "Cái quí nhất của con người là cuộc sống, đời người ta chỉ sống một lần, phải sống sao cho khỏi phải xót xa ân hận vì những năm tháng sống hoài sống phí, cho khỏi phải hổ thẹn vì những năm tháng sống hoài sống phí, để khi nhắm mắt xuôi tay ta có thể nói rằng: "Cả đời ta, cả sức ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời: Sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người"".

Nhân vật Pavel Korchagin, chiếc bóng của cuộc đời nhà văn Nikolai Ostrovsky, một thời là biểu tượng cho ý chí vươn lên của tuổi trẻ tại nhiều quốc gia cộng sản. Tác phẩm Thép đã tôi thế đấy được xem như là viên đá tảng của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa và là cuốn sách gối đầu giường của thanh niên cộng sản khắp thế giới. Stalin đã tận dụng từng ý, từng câu trong tác phẩm để kích thích các thế hệ thanh niên Sô-Viết lao vào những cuộc chém giết đẫm máu. Nikolai Ostrovsky bịnh nặng rồi chết sớm nên không có dịp chứng kiến tội ác của Stalin đối với dân tộc Balan mùa xuân năm 1940, với đối thủ chính trị của ông ta và với 20 triệu người dân Sô-viết bình thường bị đày ải vào những trại tù xa xôi miền cực Bắc, một nửa số đó đã không bao giờ trở lại. Không ai trách Nikolai Ostrovsky đã viết nên tác phẩm có tác dụng tiếp tay cho tội ác. Khát vọng bao giờ cũng là một màu xanh vô tội, chỉ có những kẻ lợi dụng khát vọng hồn nhiên của tuổi hai mươi, xô đẩy những mái đầu xanh vào vực thẳm hận thù mới là những kẻ có tội. Ngày nay tác phẩm Thép đã tôi thế đấy, bảng tiếng Anh How The Steel Was Tempered, vẫn còn bày trong nhiều thư viện, vẫn còn được đọc, khác chăng, không phải đọc để hun đúc chí thanh niên mà để học từ những hoang phí đắng cay của một thời thanh xuân lầm lỡ.

Cả Nikolai Ostrovsky và chị Đặng Thùy Trâm đều phấn đấu để trở thành người cộng sản, nhưng cuộc đời của Nikolai Ostrovsky khác nhiều so với đời chị Thùy Trâm. Nikolai Ostrovsky hy sinh cho chủ nghĩa cộng sản, ngoài khát vọng tuổi trẻ mà ông tin, còn là một hình thức trả ơn. Trong lá thư gởi cám ơn Stalin sau khi được trao tặng huân chương Lenin, Nikolai Ostrovsky bày tỏ lòng biết ơn Đảng Cộng sản đã vực ông dậy từ những nghèo nàn và bạc đãi của xã hội và biến một kẻ thiếu học như ông thành một nhà văn Sô-Viết. Chị Thùy Trâm thì khác. Chị sinh ra và lớn lên trong môt gia đình trí thức. Gia đình chị bị xếp vào giai cấp tiểu tư sản, thành phần xã hội mà Friedrich Engels trong tác phẩm Cách mạng và phản cách mạng ở Đức định nghĩa là những kẻ chỉ biết: "khoe khoang, không có khả năng hành động và lẩn tránh một cách nhút nhát khi cần phải làm một cái gì nguy hiểm." Đa số các buổi chỉnh huấn đảng được ghi lại trong nhật ký, chị đều bị phê bình: "Tính tiểu tư sản vẫn còn". Chính chị cũng thừa nhận điều đó khi viết cho Thuận, em nuôi của chị, trong nhật ký ngày 18-5-69 những dòng lãng mạn và tinh nghịch: "Em ơi, bao giờ chị cũng thương em vô hạn, nhưng tình thương đâu phải chỉ là những buổi sáng nắng hồng rực rỡ, những buổi chiều êm ả hay những đêm trăng mênh mông trên đồng lúa yên lành. Mà tình thương còn là những cơn giông sau những ngày hè êm ả. Vậy đó, làm bạn với một đứa tiểu tư sản thật là phức tạp".

Dù chế độ có nhào nặn thế nào vẫn không xóa hết được những tình cảm tự nhiên trong tâm hồn người con gái nhiều mơ mộng Đặng Thùy Trâm. Trong nhật ký ngày 1-9-68, mặc dù phần trên chị chép lại một câu văn nặng tính đảng của ai đó: "Hãy giữ vững tinh thần của người cộng sản, tinh thần trong suốt như pha lê, cứng rắn như kim cương và chói lọi muôn ngàn hào quang của lòng tin tưởng", thì ngay trong hàng kế chị lại viết: "Nói vậy mà vẫn thấy xót xa, cay đắng và cô đơn lạ thường".

Chị Thùy Trâm phấn đấu để được vào Đảng, vì đơn giản đó là nơi duy nhất chị được dạy để tin vào, để dựa vào, để vươn lên và đó cũng là chiếc thang xã hội mà mọi người, trong đó có chị, phải tìm cách trèo lên chứ chưa hẳn phát xuất từ tình yêu giai cấp. Nếu để ý, chúng ta sẽ thấy chị viết về tình yêu, tình người, tình chị, tình em tự nhiên, ngọt ngào hơn nhiều khi viết về tình đảng. Cái nhiệt tình, đúng ra là háo hức mang tính thời thượng của một người trẻ mong được trở thành đảng viên cộng sản cũng nguội lạnh dần ngay khi chị đưa tay tuyên thệ làm một đảng viên. Nhật ký của chị trong ngày gia nhập Đảng 27-9-68: "Còn niềm vui, sao nhỏ nhoi quá so với ý nghĩa của ngày vui. Vì sao vậy hả Thùy? Phải chăng như hôm nào Thùy đã nói như một đứa con khát sữa mẹ khóc đã mệt rồi, miếng sữa nuốt vào không còn nguyên hương vị thơm ngon và cái thú vị của nó nữa."

Trong những ngày phấn đấu gian nan chị đã cảm thấy Đảng không phải là nơi tập trung những kẻ "sống vì mọi người" như chị được dạy trong môi trường giáo dục ở miền Bắc. Ngày 15-6-68, chị viết những dòng đanh thép: "Điều đáng buồn nhất là trong những hy sinh gian khổ ấy, Th. chưa thấy được sự công bằng, sự trung thực. Chưa có sự đấu tranh để thắng được những cái ti tiện, đớn hèn cứ xảy ra làm sứt mẻ danh dự của hai chữ Đảng viên và làm mòn mỏi niềm vui say công tác của mọi người trong bệnh xá. Cả mùa khô ác liệt không một lúc nào mình thấy bi quan, mình luôn cười trong gian khổ vậy mà bây giờ mình đau khổ quá đi. Kẻ thù phi nghĩa mình không sợ, mà sợ những nọc độc của của kẻ thù còn rớt lại trong đồng chí của mình".

Đọc đoạn văn trên tôi chợt nhớ đến câu trả lời của nhà văn Dương Thu Hương với phóng viên Evan Williams của đài truyền hình Úc trước đây. Giống như chị Thùy Trâm, chị Dương Thu Hương cũng nói về những con người ti tiện: "Tôi không thể tin tưởng một chút gì về chính phủ của mình vì đây là những con người cực kỳ hèn hạ và thấp kém. Họ không có một tí nhân cách nào để tôi tin tưởng cả. Tôi hiểu rất rõ về họ. Họ chỉ hoàn toàn là những con người ti tiện. Những lớp người tốt mà ngày xưa còn chút lý tưởng đã chết, chết hết rồi. Bây giờ chỉ còn lại những người thế chân; đấy là những kẻ đê tiện, những kẻ ăn cắp một cách trắng trợn gian manh".

Và tôi chợt tiếc, phải chi chị Đặng Thùy Trâm còn sống đến hôm nay, trong văn giới Việt Nam hẳn có thêm một Dương Thu Hương can đảm khác.

Như hàng triệu thanh niên lớn lên trong một đất nước qua phân, ngăn cách, chị Thùy Trâm khao khát một ngày hòa bình. Chị viết trong nhật ký ngày 4-6-68: "Đêm qua mơ thấy Hòa bình lập lại, mình trở về gặp lại mọi người. Ôi, giấc mơ Hòa bình, Độc lập đã cháy bỏng trong lòng cả ba mươi triệu đồng bào ta từ lâu rồi. Vì nền Hòa bình Độc lập ấy mà chúng ta đã hy sinh tất cả." Vâng, không riêng gì chị Thùy Trâm mà tuyệt đại đa số người Việt Nam đều mơ ước hòa bình. Giọt nước mắt già nua của mẹ đợi chờ bao nhiêu năm chỉ để khóc trong mừng vui cho ngày con trở lại. Tiếc thay, chị Đặng Thùy Trâm chết sớm nên không có dịp chứng kiến một đất nước hòa bình trong máu và nước mắt chứ không phải trong nụ cười đoàn viên dân tộc mà chị hằng mơ ước. Đất nước không còn tiếng súng nhưng hàng triệu người dắt nhau đi ăn xin trên quê hương vừa thống nhất trong điêu tàn đổ nát. Bóng đêm của nghèo đói phủ trùm lên số phận một dân tộc đã phải chịu đựng hơn một phần tư thế kỷ chiến tranh và tàn phá. Những chuyến đi đày vào những trại tập trung xa xôi đã thay thế cho những giấc mơ hồi hương trong ấm êm hạnh phúc. Những đêm mưa gió bão bùng trên vùng kinh tế mới đã thay cho những giờ phút an vui, quây quần bên bếp lửa gia đình. Là một người có trái tim nhân hậu, nếu còn sống, chị Thùy Trâm sẽ nghĩ sao và làm gì trước những cảnh này?

Không phải chỉ người dân miền Nam thôi mà cả thanh niên miền Bắc cũng là nạn nhân của chế độ. Đọc đoạn nhật ký nói lên ước mơ hòa bình của chị tôi chợt nghĩ đến tâm sự cô đơn, trống vắng của người lính miền Bắc trở về trong bài thơ “Ngày hòa bình đầu tiên” của nhà thơ Phùng Khắc Bắc:

Những sợi nắng xuyên qua nhà mình

Thành những mũi tên

Thành những viên đạn,

Bắn tiếp vào anh không gì che chắn

Phải nhận tất cả,

Van anh.

Hôm qua chưa nhận được một viên đạn

Hôm nay nhận những lỗ thủng

Anh về quê không mang súng

Vũ khí lúc này hai bàn tay

Mẹ giục:

- Ăn cơm, con!

Hòa bình trong canh cua, mồng tơi, cà



Mùi ổ rơm.

Tôi vẫn nhớ ngày đọc xong bài thơ của Phùng Khắc Bắc, tôi dò hỏi về tiểu sử của anh và biết anh đã qua đời sau một thời gian sống trong bịnh hoạn, nghèo nàn, túng quẫn. Đọc tâm sự của một nhà thơ bộ đội trong ngày hòa bình đầu tiên của đất nước để hiểu rằng những xót xa này không phải của riêng ai.

Chị Đặng Thùy Trâm chết trên mảnh đất miền Nam, nơi mà chị cảm thấy "thiết tha gắn bó vô cùng" nhưng chị chưa thực sự sống trong lòng một miền Nam đúng nghĩa. Những công sự tối tăm, những căn lán nhỏ ở Đức Phổ không thể đại diện cho miền Nam. Miền Nam thật sự không có những người "đang rên siết dưới gọng kèm đế quốc", đang thoi thóp chờ "hạt gạo chẻ làm đôi" mang vào từ miền Bắc như giới lãnh đạo Đảng nhồi nhét vào tâm hồn đa cảm của chị. Chị và hàng ngàn thanh niên miền Bắc tình nguyện vào "giải phóng miền Nam" cũng chỉ vì tin như thế. Miền Nam chị chưa gặp là những cánh đồng bát ngát, những dòng sông nhuộm đỏ phù sa, những vườn cây sai trái, những con người chơn chất hiền hòa. Miền Nam chị chưa đến có những con đường phượng đỏ, hàng me xanh tình tự, những tà áo trắng hồn nhiên, những bài hát đượm tình yêu quê hương và đôi lứa. Miền Nam có hàng triệu người như anh thượng sĩ Nguyễn Trung Hiếu, những người phải chiến đấu trong một cuộc chiến tự vệ vô cùng khắc nghiệt nhưng lúc nào cũng có trái tim nhân hậu dành cho chị và những người cùng máu mủ dù đang phải đứng đâu trong cuộc chiến đau lòng này. Chị Đặng Thùy Trâm chết sớm nên không có dịp nhìn thấy hàng triệu đồng bào miền Nam thân yêu của chị phải dắt dìu nhau ra biển tìm tự do, và chị không còn sống để có cơ hội hiểu được thực chất của chế độ mà chị đã đem hết tuổi thanh xuân để phục vụ.

Chị căm thù lính Mỹ, những người mà chị có lần hằn học miêu tả trong nhật ký ngày 19-1-69 là "bọn quỷ khát máu vẫn đang giày xéo lên quê hương". Đó cũng là điều dễ hiểu. Là một bác sĩ trẻ, rất dễ buồn và đa cảm, mỗi ngày chứng kiến cái chết của bạn bè, anh em, của Khiêm, của Thuận, những người thân thiết nhất trong ngày tháng xa nhà của chị, lòng thù hận dâng cao trong lòng chị là điều không tránh khỏi.

Thế nhưng, sinh ra và lớn lên trong môt xã hội đóng khung trong bốn bức tường chuyên chính như con chim non trong lồng sắt, làm sao chị biết được ngoài kia trời đang nắng hay mưa. Suốt 28 năm bị rèn dũa trong một hệ thống giáo dục chỉ trang bị cho chị những câu trả lời mà không cho chị cái quyền được hỏi, làm sao chị hiểu được ai thực sự là những kẻ đang giày xéo quê hương. Làm sao chị hiểu được rằng năm 1959, khi giới lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam quyết định mở đường Trường Sơn "giải phóng miền Nam bằng phương tiện võ lực", số lượng "giặc Mỹ xâm lược" tại miền Nam cũng chẳng nhiều hơn so với số cố vấn Trung Quốc, cố vấn Liên Xô ở miền Bắc. Làm sao chị hiểu được rằng, vào những năm đầu của thập niên 60, võ khí của Mỹ viện trợ cho miền Nam cũng không nhiều hơn so với võ khí của Trung Quốc và Liên Xô đang ào ạt vận chuyển vào cảng Hải Phòng. Làm sao chị hiểu được rằng khẩu hiệu "Độc lập tự do" chỉ là chiếc bánh vẽ mà dân tộc ta mấy chục năm nay chẳng thể nào ăn được. Làm sao chị hiểu được rằng dù có Mỹ hay không có Mỹ, dù bằng phương tiện hòa bình hay phải "đốt cháy cả dải Trường Sơn" thì chủ nghĩa cộng sản độc tài chuyên chính vẫn phải được thiết lập trên toàn cõi Việt Nam. Và chị làm sao hiểu được nỗi đau của đồng chí, bè bạn, anh em chị còn sống sót, những người đã một thời tin vào Đảng như tin vào ánh sao Hôm sẽ dẫn lối về nhà. Ba mươi năm qua họ vẫn thức dậy mỗi đêm nhìn ánh sao Hôm mà thầm trách lấy chính mình. Trên giá sách họ cũng có những cuốn nhật ký dày và chân thật như của chị, dấu tích của những tháng ngày bão lửa chưa phai, nhưng khác chăng những nhật ký như thế sẽ không bao giờ xuất bản.

Cầu xin hương linh chị phò hộ cho đất nước chúng ta sớm qua đi thời đại của độc tài, hận thù, rẽ chia, ghen ghét, xin chị phò hộ cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau được sống trong dân chủ, tự do, no ấm, biết yêu thương nhau và che chở cho nhau.

Nếu giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam còn chút tình nghĩa nào dành cho những người đã chết thay cho họ, xin hãy để chị Thùy Trâm ngủ yên với những ước mơ xanh của chị. Đặng Thùy Trâm đã chết một lần rồi, đừng bắt chị phải chết thêm lần nữa.

Trần Trung Đạo

Talawas 2005

Chính trị Việt Nam đã quá nhiều con rối,không còn cần thêm những chú hề.

Nền chính trị thế giới từ lâu đã đoạn tuyệt hẳn với các quan niệm về ý thức hệ và chỉ chú ý tới hai khái niệm:dân chủ và độc tài.Điều đó có nghĩa là các học thuyết về một xã hội không tưởng đã được xếp xó từ thế kỷ trước.Thế nhưng vì bảo vệ thể chế,bảo vệ những đặc quyền đặc lợi...giới cầm quyền Việt Nam vẫn tiếp tục ngón nghề nguỵ biện.Sinh viên đến giảng đường vẫn phải nghe những giáo án chính trị về Chủ nghĩa Mac Lê nin mà lắm lúc người giảng cũng phải thấy ngượng .Nền kinh tế vẫn phải gắn cái đuôi định hướng XHCN,cơ sở lý luận của Đảng cũng phải sáng tạo thêm "tư tưởng Hồ Chí Minh" cho nó đủ lễ bộ.

Thế nhưng "sáng tạo" đáng kể nhất của Đảng ta là sáng tạo về nền dân chủ tập trung,trong đó quốc hội là nơi hội tụ của những "con rối chính trị".Các con rối này tha hồ"múa gậy trong bị",xây dựng nên vở kịch của một nền dân chủ giả hiệu.Thỉnh thoảng chúng được điểm xuyết thêm phần náo nhiệt bằng các màn tấu hài đặc sắc của các vua hề nổi tiếng Hoàng Hữu Phước(ĐBQH),Trần Hữu Phước(nguyên thư ký của cố Trưởng ban Tổ chức trung ương Đảng CSVN Lê Đức Thọ)...sau đó lấn sang cả văn học với màn biểu diễn của Hoàng Quang Thuận bằng 3 tác phẩm"để đời" "Hoa Lư thi tập", "Ngọa Vân Yên Tử" và "Thi vân Yên Tử" .

Đáng quan ngại nhất là phong trào tấu hài này lại có cả trong hàng ngủ của những người "đấu tranh dân chủ".Chứng bệnh hoang tưởng,hiệu ứng "tắc kè hoa"...của một số kẻ mạo danh "dân chủ" đã khiến đội ngủ DLV có dịp công kích,bôi nhọ tính chính danh của phong trào này.Có thể trích một ý kiến sau đây của DLV làm tiêu biểu:
"Trong giới chính trị ngày nay, căn bệnh hoang tưởng có thể khiến người ta đâm đầu đi làm chính trị với ảo vọng vào một ngày mình sẽ đè đầu cưỡi cổ lên người khác, sẽ được hưởng cuộc sống giàu sang, phú quý. Có thể thấy, đây là một trong những nguyên nhân khiến cho một số nhà “dân chủ” đểu bệnh tình ngày càng trầm trọng.
Bọn rận chủ với vai trò là “chó săn” cho các nước Tư bản chủ nghĩa, các tổ chức phản động lưu vong…luôn nghêu ngao, tưởng tượng rằng xã hội Việt Nam đầy rẫy bất công, xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp, đòi tự do dân chủ, xã hội dân sự…Suy cho cùng, tất cả những thứ đó là tự chúng nghĩ ra, để phục vụ cho lợi ích của chúng. Chúng chẳng phải “vì lợi ích của dân oan Việt Nam” mà chính là vì túi tiền của chúng. Bệnh hoang tưởng của chúng càng ngày càng được bơm các “liều thuốc bổ” đó là các đồng USD vào các tài khoản của chúng."

Dễ dàng chỉ ra sự "ấu trĩ'về nhận thức,khả năng áp đặt của DLV nhưng nó cũng phần nào căn cứ trên một hiện tượng có thực.Đó là bệnh hoang tưởng về vai trò cá nhân của một số người mang danh "đấu tranh dân chủ".Lỗi đó nhẹ thì thuộc về tư duy,nặng thì là trạng thái của một dạng tâm thần phân liệt.Thế nhưng rất nhiều người lại coi nhẹ tình trạng này.Một số trang báo dân chủ vẫn tiếp tay đăng những bài báo thuộc dạng này,một số người thì khích bác,một số khác cười sặc...Họ không biết rằng đây có thể là một chiêu bài "phản dân chủ"của tuyên giáo khiến hình ảnh của những người đấu tranh cho một lý tưởng chính đáng đang dần dần xấu đi trong con mắt người dân.Không thể vì lý do lo sợ nội bộ mất đoàn kết mà không vạch trần chứng bệnh này.Tiêu biểu đó là hiện tượng Lê Thăng Long với ba tuyên bố hoang tưởng:muốn nhân dân tin tưởng mình là Lý Quang Diệu,vào Đảng CSVN để chuyển hoá Đảng và mới đây là đòi kiện Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ra toà án quốc tế.

1/Trong thời đại ngày nay,thời đại của việc xây dựng và phát triển kinh tế,công bằng xã hội vai trò lãnh đạo của một cá nhân ,một tổ chức không bao giờ đóng vai trò quyết định cho sự tiến bộ của một xã hội.Cá nhân đó ,tổ chức đó dù tài giỏi đến đâu cũng chỉ đảm bảo quyền lợi cho một tầng lớp xã hội nhất định.Việc điều hành xã hội,lãnh đạo đất nước phải được tổ chức thông qua sự cạnh tranh công bằng giữa các Đảng phái và tổ chức xã hội.Do đó có ai đó muốn trở thành một Lý Quang Diệu,một Putin...chỉ là những suy nghĩ thay thế độc tài này bằng một độc tài khác.

2/Không thể kiện các lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam ra tòa án quốc tế.Vì đó là một việc làm không tưởng. Toà án quốc tế gồm có hai loại.Toà án công lý quốc tế:chỉ xử những tranh chấp giữa các quốc gia.Toà án hình sự quốc tế:chỉ xử những tội như tội ác chống lại loài người, tội ác chiến tranh, tội diệt chủng,...Cả hai đều có trụ sở tại La Hay,Hà Lan.Ngoại trừ việc trở thành Pôn Pốt,Iêng Xary các lãnh đạo CSVN đều chỉ bị xử bởi luật pháp trong nước.Do đó đòi kiện Nguyễn Tấn Dũng,Nguyễn Phú Trọng là việc hài hước.Nó chỉ có khi nào Việt Nam có một thể chế tam quyền phân lập.

3/Việc vào Đảng CSVN để mong cải tạo,chuyển hóa nó cũng là một suy nghĩ viễn vông.Bởi lẻ nhiều lãnh đạo trên thế giới đã chứng thực "Cộng sản chỉ có thay thế không thể thay đổi".Chưa có tiền lệ bất cứ Đảng CS nào tự trao ra quyền lực.Và một cá nhân vào Đảng để buộc cả một bộ máy hành động theo ý mình chỉ có trong suy nghĩ của những người thần kinh không bình thường.

Cần phải thấy rằng dân chủ là một xu thế tất yếu của xã hội loài người ngày nay.Chính yếu tố dân chủ mới kiểm soát được quyền lực,tạo động lực khai phóng tất cả các lĩnh vực và hình thành sự thịnh vượng chung.Để khỏi tạo ra sự hoang tưởng cần phải nắm rõ những quy luật biện chứng của xã hội từ đó có tư duy đúng đắn.Không quá ảo tưởng cũng như đừng quá bi quan về tiến trình dân chủ hoá của dân tộc.

Nhân sự ra đi của thầy giáo Đinh Đăng Định,nghĩ về đất nước hôm nay.

Thầy giáo ,tù nhân lương tâm Đinh Đăng Định đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 21 giờ 30 phút, tối ngày 3/4/2014 tại nhà riêng thuộc tỉnh Đăk Nông.Đây là cái kết nghiệt ngã của một trong những nhà bất đồng chính kiến với chế độ xã hội đương thời.Điều cay đắng không nằm ở cái kết quả đã được dự báo trước đó,mà lại đến chính từ thái độ,cách hành xử của đất nước hôm nay.

Trong tiến trình vận động đi lên của một dân tộc,có những người luôn suy nghĩ vượt ra ngoài những giới hạn bình thường.Họ lấy nỗi đau của đất nước làm nỗi đau của mình.Họ đấu tranh không phải cho chính họ mà cho tương lai một vùng đất,một lãnh thổ,một đất nước...Nhưng mấy ai hiểu họ?Có chăng chỉ là gia đình,bạn bè,những người cùng chung lý tưởng?

Trước sự ra đi của một con người,ai trong số 90 triệu người bỏ công tìm hiểu nguyên nhân nào,lý do nào dẫn đến cái chết vì ung thư của một sinh mạng mà vài năm trước vẫn còn tràn đầy sức sống?Có bao nhiêu người tìm hiểu tác hại của việc ô nhiễm môi trường do khai thác bauxit,nguy cơ của việc xây nhà máy điện hạt nhân?...Mặc dù đây chính là thảm họa ảnh hưởng đến sự diệt vong của các thế hệ mai sau của chính họ?

Thực tế thật chua chát khi một tấm hình của một ca sĩ nổi tiếng ,hàng ngày vẫn nhận đến hàng chục ngàn cái like,một poster cởi đồ của một diễn viên,người mẫu nhảm nhí vẫn được share bởi hàng ngàn người.Và trong hàng trăm ngàn cuộc nhậu...diễn ra hàng ngày trên mọi miền đất nước,có bao nhiêu người nhắc đến một tù nhân lương tâm lâu nhất thế kỷ (37 năm)như Nguyễn Hữu Cầu,những người chết trong tù như các tù nhân lương tâm Trương Văn Sương, Nguyễn Văn Trại và mới đây là Bùi Đăng Thủy.Và còn biết bao người tù khác vì sự kiên định trong lý tưởng của mình đã không thỏa hiệp,không chấp nhận sự "khoan hồng" của Đảng để biến mình thành một kẻ cơ hội như:Điếu Cày Nguyễn Văn Hải,Trần Huỳnh Duy Thức,Lê Quốc Quân,Trương Duy Nhất...

Không một người "đau chân" nào quên đi cái "chân đau" của mình để nghĩ đến cái chân của kẻ khác(Nam Cao).Nhưng cũng chỉ đến khi "đau chân",họ mới nhận ra rằng vô cảm trước cái "chân đau"của kẻ khác lắm lúc cũng là một tội ác.Và cũng chỉ đến khi thảm họa thiên nhiên,sinh thái ,thảm họa mất nước,thảm họa dân tộc... thực sự trút xuống,họ mới nhận ra giá trị những cái chết như thầy giáo Đinh Đăng Định của ngày hôm nay.

Cùng với đại tướng Võ Nguyên Giáp,thầy Định cũng là trung úy Quân đội nhân dân Việt Nam và cũng đều cùng bất đồng về dự án khai thác bauxit Tây Nguyên.Nhưng Cụ lại thọ đến 102 tuổi và ra đi trong trống giong cờ mở,còn thầy ngậm hờn với mối nghi ngờ phải chăng các đồng chí một thời của mình đã hạ độc ở nước uống để dẫn tới căn bệnh ung thư trong những năm tháng lao tù khắc nghiệt?Thầy đòi đa nguyên,đa đảng .Cụ thì không.Chắc có lẻ vì Cụ biết điều hơn.

Một nén tâm nhang vĩnh biệt thầy Định.Hậu thế sẽ tạ ơn thầy.

Thưa các ông "nghị",các vị đang ngủ hay thức ?

Hôm nay đọc bài "Khi sinh viên chất vấn đại biểu quốc hội" (Dân trí)mà thấy buồn cho cơ quan quyền lực cao nhất nước mình.Không hiểu các vị định lừa dân tộc này đến khi nào?Các vị nói đang "giật mình"trước các câu hỏi của sinh viên?Các vị bây giờ vẫn còn có khả năng "giật mình"sao?

Chúng tôi không nói đến việc 97% trong các vị bỏ phiếu tán thành thông qua bản hiến pháp sửa đổi,trong đó tồn tại điều 4 thừa nhận quyền lãnh đạo của Đảng CSVN như một nghịch lý đáng hổ thẹn của nhà nước mà các vị vẫn tung hô là dân chủ,vì điều đó thuộc về cơ chế,các vị vốn là"con sâu cái kiến"chẳng thể làm gì để thay đổi cái cơ chế ấy.Chúng tôi cũng không nói đến việc các dự án khai thác tài nguyên đất nước một cách cạn kiệt như dự án bauxit ,phá rừng,điện hạt nhân,bán đất ,bán biển...gây thiệt hại cho nguyên khí quốc gia,vì các chuyện ấy thuộc về sự lũng đoạn của các tập đoàn quyền lực, nhóm lợi ích,mafia tầm cỡ quốc gia,các vị "hèn" cũng đúng vì dù sao cũng phải để dành chỗ đội nón...

Chúng tôi chỉ nói đến việc các vị nghĩ gì khi trong mỗi kỳ họp quốc hội lại có thể thản nhiên giơ cao cái thẻ mà dân trao cho quý vị để biểu quyết tán thành những điều luật vô lý như 79,88,258... để bỏ tù những người"bất đồng chính kiến".Nên nhớ rằng các vị hèn nhưng còn nhiều người khác không hèn.Các vị không dám nói thì hãy để người khác có dũng khí nói thay,hà cớ gì lại "bịt miệng "họ?

Dân trao cho các vị chức năng "đại biểu quốc hội" để chứng tỏ sức mạnh của một nền dân chủ tập trung,các vị là đại diện cho một cơ quan quyền lực cao nhất nước.Nhưng các vị đã biến nó thành những tính từ mang hàm ý mỉa mai.Mỗi lần họp quốc hội của các vị chỉ là mỗi lần hội diễn của các vở nhạc kịch,trong đó đã được phân vai ,lĩnh xướng các bè trầm,bè cao...Đa số là ngủ gật,một số ít có tên tuổi khi báo chí hỏi tới thì nặng về phô diễn trí tuệ hoặc nói lấy được.Văn phòng tiếp dân thì mỗi tuần không mở cửa quá 2 ngày.Dân gặp chuyện thì chẳng bao giờ nghe thấy tiếng nói của đại biểu quốc hội.

Chúng tôi không thể so sánh quốc hội của các vị với quốc hội Mỹ,vì như thế là khập khiễng.Quốc hội Mỹ có 100 thượng nghị sĩ, mỗi người có 40 trợ lý, và 435 hạ nghị sĩ, mỗi người lại có 25 phụ tá. Họ được tổ chức thành 42 ủy ban và 182 tiểu ban, có nghĩa có lúc nào cũng có 224 cuộc đàm thoại diễn ra cùng một lúc. Và nhóm hơn 15.000 người này (100×40 + 435×25 ) không phải là nhóm duy nhất.
Trước mặt họ là khoảng 22.000 nhà vận động hành lang có đăng ký, với nhiệm vụ (cùng với những mục đích khác) là ngồi với các nhà lập pháp và đưa ra dự thảo luật lệ.Các vị có bao nhiêu đại biểu chuyên trách và không chuyên trách?Quá trình gần dân ,nắm nguyện vọng của dân để làm luật, để tác động vào chính sách như thế nào mà dân oan ngày càng đầy rẫy.Các vị chắc cũng chẳng nhọc công về các vùng xa xôi,hẻo lánh để nắm ý dân.Họ bây giờ đã có sẵn ở các vườn hoa các thành phố lớn trong những ngày lễ lớn.Các vị cũng chẳng cần phỏng vấn họ thêm phí công bởi khẩu hiệu họ mang theo cũng đã nói hết cả rồi.

Điều chúng tôi muốn nói là lòng tự trọng và lương tâm các vị để ở đâu khi để lực lượng chấp chính lộng quyền,coi thường người dân.Công an ngang nhiên tra tấn người dân vô tội đến chết mà vẫn được đề nghị án treo,cán bộ có chức quyền cướp đất,đền bù không thỏa đáng khiến nhiều phụ nữ phải trần truồng để giữ đất,nhiều người phải hy sinh tính mạng mình như Đặng Ngọc Viết để nói lên tiếng nói của lẻ phải,của công bằng.Nếu ở các nước khác,các nghị viên đều tự thấy xấu hổ mà từ chức.Nhưng thực tế các vị có mấy ai từ chức hay đây chỉ là thứ văn hóa xa xỉ ?

Chưa kể là với tư duy"bịt lỗ rò","mất bò mới lo làm chuồng" các vị cũng chỉ lên tiếng khi học sinh phải đến trường bằng đu dây,qua sông bằng túi ni lông,phụ nữ phải làm trâu thay người,ăn cắp,làm điếm ở nước ngoài...chứ không bao giờ tác động tới chính sách của chính phủ bằng những kế hoạch dài hơi.Chắc các vị nghĩ đó chẳng phải là trách nhiệm của mình?Như vậy các vị sẽ để lại cho sinh viên,các thế hệ tương lai những kinh nghiệm gì?Có chăng chỉ là thái độ bạc nhược,yếu hèn,bất lực của một cơ quan quyền lực cao nhất nhưng thực chất lại là cơ quan hèn nhất.

Nói các vị chỉ là "bù nhìn" thì thật tội nghiệp cho giống "bù nhìn" lắm vì ít ra chúng cũng còn làm được việc có ích là đuổi đi chim chóc,gà vịt...giữ thóc cho người dân.Còn các vị ,ngay đến việc này cũng không đủ sức.