Thứ Tư, 16 tháng 12, 2015

VIỆT NAM VÀ NỢ CÔNG.

Một đất nước cũng giống như một gia đình phải tự làm lấy mà ăn,lấy thu để chi,tự cân đối ngân sách.Khi đi vay nợ phải dùng số nợ đã vay đó để làm vốn,phát triển các ngành nghề có thể sinh ra lãi,từ đó tính toán sao có thể trả được nợ không bị ảnh hưởng tới đời con đời cháu. VNCH dưới thời ông Ngô Đình Diệm mặc dù được Mỹ viện trợ hàng năm nhưng luôn dùng số tiền viện trợ đó để khuếch trương kỹ nghệ,giáo dục và quốc phòng.Chế độ không dùng số tiền đó để chi tiêu,xây cất dinh thự hoặc các công trình loè loẹt để mị dân. Trong khi đó chế độ CS dùng tiền vốn vay nợ nước ngoài để đầu tư vào cơ sở hạ tầng nhưng đầu tư dàn trải ,không hiệu quả,chủ yếu là để cho dân thấy sau bao nhiêu năm đất nước cũng có thay đổi.Mọc lên nhiều đô thị,nhiều xa lộ,nhiều công trình hiện đại.Thật ra các công trình đó đều là "làm để ăn" chứ không phải làm để sản xuất.Chúng cũng giống như các công trình của đất nước Ba Lan trước kia,hậu cộng sản là phải đập ra làm lại hết vì toàn là "bê tông cốt tre". Thế nhưng chúng lại tạo ra một số nợ khá lớn cho đất nước.Nợ này phải bán tài nguyên để trả dần và đi vay tiếp để trả lãi.Thế nhưng kinh tế đất nước lại trông cậy chủ yếu vào làm thuê.Làm thuê thì thu nhập bằng hoặc thấp hơn sức lao động mình bỏ ra.Do đó không đóng góp được vào sự phát triển của đất nước .Chính vì thế số nợ ấy ngày một phình to ra chứ không hề thu hẹp lại.Tính sơ những năm sắp tới VN phải mất hàng tỷ USD mỗi năm để trả lãi.Khi nợ đáo hạn thì phải trả cả gốc.Không trả được nợ gốc thì vỡ nợ và bị hạ thấp tín dụng.Lúc đó đất nước sẽ lâm vào bạo loạn. Nhiều người đem so sánh VN với Mỹ,Nhật và cho rằng Mỹ ,Nhật nợ còn khủng khiếp hơn.Thưa rằng Mỹ và Nhật nợ ngay chính dân nước họ.Nhưng số nợ của các nước này được dùng để kích thích ,phát triển kinh tế và an sinh xã hội.Do vậy lợi nhuận từ tăng trưởng kinh tế khiến họ thừa sức trả lãi và giá trị các trái phiếu mà họ phát hành luôn đảm bảo.Nó là một kênh đầu tư an toàn sinh lợi nhuận cho những nhà đầu tư dư tiền.Do đó Mỹ và Nhật không lo vỡ nợ chừng nào không có khủng hoảng kinh tế thế giới. Trong khi đó chính phủ VN hiện nay đang bất lực trong vấn đề tăng trưởng kinh tế.Họ chỉ còn cách bóc lột sức dân để trả lãi các món nợ.Nhưng khi sức dân cạn kiệt vì bị bóc lột thậm tệ thì sẽ sinh ra phản kháng.Và lúc đó chế độ buộc phải chọn lựa: hoặc thay đổi hoặc cáo chung.

VENEZUELA- BỨC TRANH TOÀN CẢNH

Năm 1964,trong bài "Hãy nhớ lấy lời tôi" Tố Hữu viết: Du kích quân Caracas đã vì anh Bắt một tên giặc Mỹ giữa đô thành. Để đòi tự do cho Nguyễn Văn Trỗi, các du kích quân Caracas ở đất nước Venezuela đã bắt cóc một sĩ quan Mỹ. Tuy nhiên, kế hoạch không thành, sau khi họ trả tự do cho con tin Mỹ thì ở Việt Nam, Trỗi bị xử tử.Từ ấy đến nay Venezuela đã trải qua 51 năm đầy biến động.Chúng ta hãy thử lượt qua những nét chính về đất nước từng một thời ủng hộ CSVN. Venezuela (tên chính thức là Cộng hòa Bolivar Venezuela, tiếng Tây Ban Nha) là một quốc gia thuộc khu vực Nam Mỹ. Venezuela tiếp giáp với Guyana về phía đông, với Brasil về phía nam, Colombia về phía tây và biển Caribbean về phía bắc. Dầu mỏ được phát hiện tại Venezuela đã mang lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế đất nước, thu nhập quốc dân được nâng cao. Đến sau Thế chiến thứ hai, những dòng người nhập cư từ Nam Âu như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý cũng như những nước Mỹ Latinh nghèo hơn đã khiến xã hội của Venezuela trở nên vô cùng đa dạng. Sau khi tổng thống Hugo Chavez đắc cử trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1998, ông đã lãnh đạo đất nước Venezuela theo đường lối cánh tả với học thuyết của chủ nghĩa Bolivar và chủ nghĩa xã hội thế kỷ 21 cho châu Mỹ. Theo đó, ông muốn tách khu vực Mỹ Latinh ra khỏi sân sau của Hoa Kỳ và có những tuyên bố chống Mỹ khá mạnh bạo. Dưới thời ông Hugo Chavez, quan hệ ngoại giao với các nước cánh tả và xã hội chủ nghĩa tại Mỹ Latinh được đẩy mạnh, nhất là với Nga, Bolivia và Cuba khi cả ba nước thiết lập một hiệp định thương mại nhằm ngăn cản ảnh hưởng của Mỹ vào khu vực. Mặc dù là một quốc gia nhiều tài nguyên thiên nhiên nhưng việc phân bố tài sản tại Venezuela lại không đồng đều, khiến cho đời sống một bộ phận lớn dân nghèo gặp nhiều khó khăn. Dưới sự lãnh đạo của tổng thống Hugo Chavez, tỉ lệ người nghèo . tại Venezuela đã tăng lên đáng kể Người dân ngày càng tổ chức những cuộc phản đối mạnh mẽ hơn. Cùng với nguyên nhân thiếu hụt điện nước, những người phản đối cũng nói đến tình trạng mất kiểm soát đối với tội phạm khiến cho Venezuela đang có tỷ lệ tội phạm cao nhất thế giới. Người biểu tình án ngữ trong sân vận động khi diễn ra một trận đấu bóng chày để kêu gọi ông Chavez từ chức. Người biểu tình đã giương cao khẩu hiệu đậm chất thể thao: "Chavez, ông đã bị loại! Đồng thời, quan hệ ngoại giao giữa Venezuela và Mỹ cũng xấu đi nhanh chóng. Quan hệ của Venezuela với nước láng giềng Colombia, một đồng minh của Mỹ cũng ngày một tồi tệ. Đầu năm 2008, khi quân đội Colombia tấn công tiêu diệt căn cứ quân nổi dậy FARC tại lãnh thổ Ecuador, Venezuela đã phản đối mạnh mẽ và hai nước suýt xảy ra một cuộc chiến tranh. Sau khi ông Hugo Chavez qua đời vì ung thư sau 14 năm cầm quyền, Phó Tổng thống Nicolas Maduro, người được đích thân Chavez chọn để kế nhiệm, đã lên làm tổng thống thay ông. Ngày 7 tháng 12 năm 2014, chính phủ đã cáo buộc những nhà hoạt động của đảng đối lập Ý chí Nhân dân (Voluntad Popular) về những cuộc tấn công trên. Lãnh đạo của đảng Ý chí Nhân dân, ông Leopoldo López, đã bị bắt giam hồi tháng 2 vì vai trò bị cáo buộc của mình nhưng những thành viên của đảng này phủ nhận những cáo buộc đó. Các doanh nghiệp quốc gia phá sản, thuế gia tăng, và mặc dù Trung Quốc đã bảo trợ cho Venezuela trong ngắn hạn nhưng những sự thoả thuận sẽ có thể gây hại cho Venezuela trong dài hạn. Trong khi đó, nền kinh tế ở bờ sụp đổ, tình trạng bất ổn xã hội ngày càng tăng. Thay vì giải quyết các vấn đề trên, chính phủ Venezuela dường như bị các đảng chính trị đối lập cáo buộc và chỉ trích. Giữa tất cả sự hỗn loạn, quân bài duy nhất của chính phủ Venezuela dường như vẫn là đút lót túi tiền của các nhà lãnh đạo quân đội khi đầu tư vào các lô hàng vũ khí lớn từ Trung Quốc. Venezuela đã có gần 24.000 vụ giết người trong năm 2013 và nằm trong số những nơi sinh sống nguy hiểm nhất thế giới. Cuộc bầu cử diễn ra hôm 7.12 theo giờ Việt Nam. Liên minh thống nhất dân chủ (MUD) đã giành được 99 ghế so với 46 ghế của đảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất Venezuela (PSUV) trong 167 ghế của quốc hội Venezuela. Pháo hoa mừng chiến thắng được phe đối lập bắn khắp nơi ở thủ đô Caracas sau khi kết quả cuộc bầu cử được công bố, trong khi những người ủng hộ chính phủ dẹp bỏ những bữa tiệc được chuẩn bị để ăn mừng cho chiến thắng của đảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất cầm quyền suốt 16 năm nay. “Venezuela cần sự thay đổi, và ngày hôm nay sự thay đổi bắt đầu”, Jesus Torrealba, lãnh đạo của liên minh đảng đối lập MUD phát biểu, theo The Guardian. Ông Torrealba nói rằng Venezuela đang trải qua thời kỳ khủng hoảng tồi tệ nhất trong lịch sử nước này, vì vậy cần có sự thay đổi. Sau khi giành thắng lợi trong cuộc bầu cử Quốc hội, liên minh các đảng phái đối lập Venezuela đã nhanh chóng công bố chương trình hành động về kinh tế và chính trị, gồm cả mục tiêu thả các tù nhân. Phe đối lập dự kiến sẽ thông qua luật ân xá cho những ai bị giam giữ vì lý do chính trị dưới thời tổng thống Nicolas Maduro. Trong số các tù nhân nổi tiếng nhất có chính trị gia Leopoldo Lopez. Ông bị xử tù 14 năm hồi năm 2014 vì “kích động bạo lực”. Theo BBC News, đây là lần đầu tiên trong 16 năm Đảng Xã hội Thống nhất Venezuela (PSUV) không nắm kiểm soát tại Quốc hội - một đòn giáng nghiêm trọng cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa của họ.

THẾ NÀO LÀ BẤT TUÂN DÂN SỰ?

Rất nhiều người Việt nay vẫn chưa hiểu được ý nghĩa của đấu tranh bất bạo động mặc dù Việt Nam có một người ngay từ xa xưa đã thấm nhuần tư tưởng ấy .Đó là cụ Phan Chu Trinh. Phan Châu Trinh, Nelson Mandela và Aung San Suu Kyi là những biểu tượng sáng ngời của những dân tộc với những hoàn cảnh lịch sử khác nhau nhưng cùng có số phận bi thương trong thời hiện đại, đều đã có chung một lý tưởng: đấu tranh vì dân quyền và nhân quyền cho đất nước mình bằng phương pháp ôn hòa, bất bạo động, dựa trên nền tảng văn hóa và giáo dục... Thế nào là "bất tuân dân sự"?Civil Disobedience, bất tuân dân sự là một thái độ tích cực từ chối không tuân thủ những luật lệ nào đó bị cho là thiếu công minh mà vẫn không sử dụng đến bạo động chống chính phủ. Tại sao bất tuân dân sự lại hiệu quả hơn bạo động?Bởi vì bạo động sẽ tạo ra hận thù và khó có thể thiết lập nên một nhà nước dân chủ. Tất cả các nhà nước độc tài đều được thiết lập nên do bạo động.Trong lịch sử Việt Nam đó là các triều đại phong kiến.Gần đây nhất chính là nhà nước CHXHCNVN được thiết lập bởi "bạo lực cách mạng".Thế nhưng các nhà nước độc tài thường không đứng vững cùng lịch sử bởi thể chế của nó chỉ nhằm phục vụ cho một nhóm người.Chính vì được xây dựng trên bạo lực nên đã hơn 40 năm qua nó vẫn không thể hoá giải được mối hận thù từ một bộ phận khác: đó là những người dân miền Nam với tên gọi VNCH.Và cũng do chính sách cai trị đầy bạo lực nó cũng khiến đại bộ phận người dân cả nước bất mãn và chống đối. Vậy thì vấn đề đặt ra là nếu lật đổ chính quyền CSVN hiện nay bằng bạo lực,người dân VN cũng đi vào vết xe đổ trước đó.Nghĩa là hận thù sẽ nối tiếp hận thù,không chừng sẽ xảy ra các cuộc tàn sát đẫm máu hoặc chiến tranh du kích,chiến tranh quy ước.Bởi một điều đơn giản chính quyền CSVN,bộ máy CA bảo vệ chế độ,đảng viên CS...tất cả đều có người thân.Nếu như họ bị tiêu diệt bằng bạo lực,các thế hệ sau không dễ nào quên đi mối hận đó. Vì vậy tha thứ và đấu tranh chuyển đổi thể chế chính trị bằng "bất tuân dân sự" là con đường tốt nhất ,ngắn nhất để xây dựng lại đất nước.Bạo lực sẽ tạo ra một chế độ độc tài mới nhưng tha thứ và hoà bình thì không.Việt Nam sẽ tránh được một cuộc nội chiến tương tàn mới.Bất tuân dân sự cũng sẽ khiến chế độ mới đứng vững chãi mà không sợ bất cứ cuộc bạo loạn lật đổ nào khác. Vấn đề còn lại bất tuân dân sự có hiệu quả không ? Nó rất hiệu quả nếu tạo ra một số đông đủ sức bao vây ,ngăn chặn và bỏ đói chính trị đối với chế độ,với thế lực cầm quyền.Bất tuân dân sự khiến kinh tế kiệt quệ,nợ công gia tăng,sức ép vỡ nợ,phá sản của giới tài phiệt sẽ đè nặng lên chính quyền.Tất cả buộc chính quyền phải chấp nhận các yêu sách của người dân.Điều này đã xảy ra ở hơn 30 nước trên thế giới. Thế nhưng bất tuân dân sự cũng chỉ thành công đối với lực lượng dân trí cao,kiên định với chủ trương bất bạo động và tuyệt đối không mắc mưu khiêu khích,phá hoại của chính quyền.Việc đánh chiếm các khu trung tâm,sự chia cắt dài ngày là những yếu tố cơ bản dẫn đến thành công.Tất cả những vấn đề này đòi hỏi cả một quá trình chuẩn bị,diễn tập và sự kiên trì cũng như khả năng lãnh đạo biểu tình của lực lượng đấu tranh dân chủ Việt Nam,một điều xem ra rất khó khi rất nhiều người Việt hiện nay vẫn rất mơ hồ về "bất tuân dân sự" và đấu tranh bất bạo động

VỤ LUẬT SƯ NGUYỄN VĂN ĐÀI BỊ BẮT: AI CHỐNG PHÁ AI?

Sử dụng chữ "ngu" hoài đối với lũ DLV vietvision này hoài thì cũng tội cho chúng quá,vì chúng có hiểu gì đâu về luật pháp quốc tế.Nhưng không sử dụng thì không thể nói lên được bản chất của vấn đề. Đối với luật pháp của các nhà nước dân chủ,không và không thể có tội"tuyên truyền chống phá nhà nước và cũng không thể có hoạt động chống phá nhà nước bằng ...mồm.Bởi vì tội chống phá " nhà nước"( từ của chính quyền Việt nam) ,hay Government( ngôn ngữ quốc tế) là gì? 18 USC § 2385 – Advocating overthrow of Government (Tội vận động lật đổ chính quyền – Bộ luật Hình sự Mỹ).Nguyên văn: (trích) Whoever, with intent to cause the overthrow or destruction of any such government, prints, publishes, edits, issues, circulates, sells, distributes, or publicly displays any written or printed matter advocating, advising, or teaching the duty, necessity, desirability, or propriety of overthrowing or destroying any government in the United States by force or violence, or attempts to do so; or Dịch: Bất cứ ai, có ý định gây ra sự lật đổ hoặc phá hoại bất kỳ chính quyền nào như vậy bằng cách in, xuất bản, chỉnh sửa, phát hành, truyền bá, buôn bán, phân phối, hoặc trưng bày nơi công công bất kỳ tài liệu viết hoặc in có nội dung vận động, tư vấn, giảng dạy trách nhiệm, sự cần thiết, sự khao khát lật đổ hoặc tiêu diệt bất cứ chính quyền cấp nào tại Hoa Kỳ bằng vũ lực hoặc bạo lực, hoặc nỗ lực để làm như vậy. Như vậy luật pháp của nước Mỹ chỉ cấm việc lật đổ,tiêu diệt chính quyền bằng vũ lực và bằng bạo động. Còn tuyên truyền để thay đổi một nhà nước,một chính phủ bằng phương pháp hòa bình thì sao? Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ là văn bản chính trị tuyên bố ly khai khỏi Anh của 13 thuộc địa Bắc Mỹ. Được tuyên bố vào 4 tháng 7 năm 1776, Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ ghi dấu ảnh hưởng của triết học Khai sáng và cả kết quả của Cách mạng Anh năm 1688. Nội dung chính của bản tuyên ngôn được dựa trên tư tưởng của một triết gia người Anh ở thế kỷ 16, John Locke. Theo lý thuyết của John Locke, ba quyền cơ bản không thể bị tước đoạt của con người là quyền được sống, được tự do và được sở hữu. Quyền sở hữu được Jefferson đề cập tới trong bản tuyên ngôn là "quyền được mưu cầu hạnh phúc". Những ý tưởng khác của John Locke cũng được Jefferson đưa vào bản tuyên ngôn như sự bình đẳng, Nhà nước hạn chế, quyền được lật đổ Chính quyền khi Chính quyền không còn phù hợp. Theo quan điểm của các nhà triết học thời đại khai sáng của thế kỷ 17 và 18 thì các quyền không thể tước bỏ được là các quyền tự nhiên do Tạo hóa ban cho họ. Các quyền này không bị phá hủy khi xã hội dân sự được thiết lập và không một xã hội hay một chính phủ nào có thể xóa bỏ hoặc "chuyển nhượng" các quyền này. Các quyền không thể tước bỏ bao gồm quyền được sống, quyền tự do (các quyền tự do ngôn luận và thể hiện, quyền tự do tín ngưỡng và nhận thức, quyền tự do lập hội) quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, đây chưa phải là bản liệt kê đầy đủ các quyền mà các công dân có được trong một nền dân chủ. Các xã hội dân chủ đồng thời thừa nhận các quyền dân sự như quyền được xét xử công bằng, và còn lập nên các quyền chủ chốt mà bất kỳ chính phủ dân chủ nào cũng phải duy trì. Vì các quyền này tồn tại không phụ thuộc vào chính phủ, do đó chúng không thể bị luật pháp bãi bỏ cũng như không phụ thuộc vào ý muốn nhất thời của đa số cử tri nào đó. Vì vậy hoạt động tuyên truyền để lật đổ,thay thế một chính quyền không còn phù hợp nhất là khi nhà nước,chính phủ ấy không đảm bảo các quyền con người là điều chính đáng.Luật sư Nguyễn Văn Đài đã không kêu gọi dùng bạo lực,vũ lực để ám sát ,khủng bố bất cứ một cá nhân hay toàn bộ chính quyền nhà nước CSVN thì không thể gọi là phạm luật. Khi cái nhà nước ,chính phủ vi phạm quyền con người ấy ngang nhiên tồn tại mà khoanh tay đứng im không làm gì cả thì mới phạm luật.Luật này do chính Tuyên Ngôn nhân quyền của nước Mỹ quy định cho toàn thể nhân loại,do chính luật sư Thomas Jefferson thảo ra.

Thứ Tư, 18 tháng 11, 2015

HIỂU THÊM VỀ CÔNG LÝ

17 Notifications Privacy Shortcuts Account Settings Friend Requests See all Friend Requests Hiền Linh 9 mutual friends Xuân Thanh 13 mutual friends Saigon Yeu Heo Vang is a mutual friend. English (UK) · Privacy · Terms · Cookies · Advertising · AdChoices · More Facebook © 2015 News Feed Dương Hoài Linh 12 November at 10:08 · Mấy hôm nay giở xem lại bộ phim"Hồ sơ công lý" của Hồng Kông từ thập niên 80 mới thầm phục "lăn lóc" người Hồng Kông.Những năm đó trong khi dân Việt nam đói văn hóa,bọn trẻ như mình nghe tin có đội chiếu bóng lưu động về phục vụ là đang làm đồng mà như mở cờ trong bụng.Thế là đêm hôm lặn lội,đội mưa gió để xem những phim như "Biệt Động Sài Gòn","Ván bài lật ngửa""Cô Nhíp"...ca ngợi các anh hùng cách mạng,ca ngợi khủng bố...Người dân bị nhồi nhét những tư tưởng chính trị bạo động,trái luật pháp nhưng chẳng hiểu gì,cứ việc há hốc mồm mà tấm tắc khen. Trong khi đó Hồng Kông cũng "nhồi",nhưng lại nhồi vào đầu người dân những tư tưởng về luật pháp,về công lý mà đến nay hơn 30 năm rồi vẫn tươi nguyên giá trị.Càng xem càng thấy sâu sắc.Chẳng hạn: - Luật sư phải thể hiện đạo đức nghề nghiệp.Cho dù thủ phạm là ai cũng phải bào chữa đến cùng.Vấn đề là khi kết án không nên để bồi thẩm đoàn hiểu sai. - Nghi phạm có tiền sử,có quá khứ phạm tội,bị bắt gặp ngay tại hiện trường nhưng không có nghĩa nghi phạm là thủ phạm khi chưa xác định được bằng chứng,nhân chứng. -Chưa có quyết định của tòa án không ai bị coi là tội phạm. Nghi phạm được thả ngay tại tòa nếu chứng minh được ngoại phạm hoặc bên buộc tội không trưng ra được bằng chứng buộc tội... Và rất nhiều ,rất nhiều những luận cứ,tư tưởng pháp luật mà nếu áp dụng vào xã hội Việt nam hiện nay sẽ soi sáng rất nhiều vấn đề. Ngay cả trong vụ "Mặt trận" xôn xao cộng đồng NVHN vừa qua,nếu áp dụng các nguyên tắc pháp lý trong một xã hội pháp trị như của Hồng Kông ta cũng thấy nổi lên mấy điểm sau: -Chỉ có tòa án Mỹ mới xác định được "Mặt trận" có tội.Chừng nào chưa có quyết định của tòa án "Mặt trận" vẫn vô tội và mọi kết luận đều bị coi là phỉ báng. -"Mặt trận" không có trách nhiệm gỡ tội cũng như việc kiện hay không kiện bên AC Thompson là quyền của họ.Không thể lập luận là vì họ "có tật" nên không dám kiện.Trong trường hợp họ xác định không thể thắng ,không thế nêu ra các đòi hỏi pháp lý của tòa án thì họ không dại gì tốn tiền cho luật sư. - Trách nhiệm buộc tội là của FBI , công tố và bồi thẩm đoàn.Nếu các bên này không trưng ra được bằng chứng thì dư luận trong một xã hội pháp trị không có quyền kết án họ Đấy là các nguyên tắc pháp lý của một vấn đề trong xã hội Mỹ tương tự như xã hội Hồng Kông.Nhưng có lẻ những vấn đề này rất xa lạ với xã hội Việt nam,một xã hội chuyên đánh giá qua tin đồn,thành kiến và nghi ngờ,ngoài ra rất ít khi chú trọng đến bằng chứng. Chính vì mải lo nhồi nhét vào đầu người dân những tư tưởng chính trị phục vụ cho đảng cầm quyền nên xã hội Việt Nam hiện nay rối tung vì sự "lệch chuẩn".Án oan đầy rẫy,nạn nhân bị đánh chết vì rửa bát không sạch,luật sư bị bầm dập vì phóng xe gây bụi,chứng cứ bị ngụy tạo,công an lẫn lộn với côn đồ,làm mất mặt côn đồ bởi những trò hèn mà côn đồ không thèm làm. Suy cho cùng xã hội Việt nam đang gánh chịu những hậu quả có tính hệ thống.Nó như một cuộn chỉ rối mà Đảng CSVN đang nắm đầu mối.Chỉ cần dẹp bỏ Đảng CS là giải quyết được sự rối rắm đó.Điều này ai cũng biết nhưng làm cách nào mới là điều khó.Vậy nên tất cả những luận điểm cải tổ ,cải cách,sửa đổi đều chỉ là trò hề.Nói ra cho nó vui cửa vui nhà.

NGHỀ THẦY CÃI Ở VIỆT NAM

Trong tất cả các ngành nghề “ngư, tiều, canh, mục”, “sĩ, nông, công, thương, binh” thì nghề "luật sư" là nghề mà chế độ CS ghét nhất."Luật sư" tức là thầy cãi,mà chế độ thì lại rất ghét đứa nào hay cãi. Trước 1945 thời Pháp đã có nghề luật sư( Ngày 26/11/1867 Thống đốc Nam Kỳ De la Grandière ký ban hành Nghị định về việc hành nghề bào chữa trước các Tòa án Pháp (dành xét xử người Pháp và người đã nhập quốc tịch Pháp ở Nam Kỳ). Đây là văn bản pháp luật đầu tiên về nghề luật sư, được chính quyền thực dân Pháp ban hành ở Việt Nam theo quy định tại Điều 27 Sắc lệnh ngày 25/7/1864 của Hoàng đế Napoléon III. Tuy nhiên sau 1945,chế độ CS chỉ quy định chế độ bào chữa viên tạm thời bằng các sắc lệnh.Bởi vậy mới có hàng loạt oan sai trong cải cách ruộng đất vì bào chữa viên chỉ là bù nhìn trong các phiên tòa. Sau 30/4/1975,chế độ CS tiếp tục chế độ này ở miền Nam bằng Điều 4 Sắc luật số 01-SL/76 ngày 18/3/1976 của Hội đồng Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam . Ngày 18/12/1987, Hội đồng Nhà nước CSVN đã thông qua Pháp lệnh Tổ chức luật sư. Từ đó, các tổ chức luật sư chuyên nghiệp ra đời thay thế các hình thức bào chữa viên nhân dân. Liên đoàn luật sư Việt Nam ra đời vào ngày 12/5/2009. Tiến Sĩ Hà Sĩ Phu, người nhiều năm nghiên cứu về chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam nói rằng thực ra người cộng sản chỉ coi pháp luật là một công cụ tạm thời của họ mà thôi: Thực tế là người cộng sản họ muốn mình chỉ đạo tuyệt đối. Theo luật sư Võ An Đôn với thể thức cơ chế hiện nay thì luật sư không cách nào bảo vệ được công lý trừ khi có sự thay đổi áp dụng tam quyền phân lập. Trong luật Việt Nam, không có từ nào là công lý . Ở các nước, khi ra tòa người ta nhân danh công lý. Còn ở Việt Nam, Hội đồng xét xử thì nhân danh nhà nước. Đó là sự khác nhau căn bản. Theo luật sư Vũ Thu Nam nghề luật sư ở Việt Nam có nhiều rủi ro, nhiều nguy hiểm rình rập xung quanh . Các tai nạn nghề nghiệp có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Tuy vậy nghề luật sư cũng là nghề hái ra tiền ở Việt Nam hiện nay, mỗi tháng mỗi luật sư nhận trung bình từ 3 vụ đến 10 vụ án; nếu là luật sư chân chính thì nhận vài triệu đồng mỗi vụ, còn luật sư chạy án thì nhận từ vài chục triệu đến vài trăm triệu đồng mỗi vụ. Nhiều luật sư chạy án giàu lên nhanh chóng, mua nhà lầu ở nhiều nơi và tậu xe hơi đắt tiền. Thế nhưng nếu căn cứ vào những đặc trưng của một nhà nước pháp quyền XHCN đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN thì luật pháp không phải là tối thượng,vậy nên nghề luật sư chỉ là một nghề để trang trí cho chế độ.Chế độ CSVN được xây dựng trên nền tảng của "cái còng và khẩu súng" không cần thiết phải có luật và bất chấp luật.Chẳng qua do sức ép của dân trí và quá trình hội nhập ,họ buộc phải thừa nhận nghề này như một cách để mị dân. Bởi vậy cùng với Trung Quốc,Việt Nam đang sửa luật để đàn áp giới luật sư mạnh mẽ hơn.Tiêu biểu trong những ngày qua là các vụ án của các luật sư Vũ Thu Nam.Lê Luân và Trần Vũ Hải .Chắc chắn những luật sư đứng về phía đấu tranh dân chủ và dân oan cả nước rồi đây sẽ phải chống lại một thứ "luật rừng" quái đản mà bộ máy chính quyền tạo nên.Nhưng cùng với giới Blogger,giới luật sư sẽ không khuất phục chừng nào họ vẫn còn niềm tin vào công lý ,vào lẻ công bằng trên cõi đời này.

NÓI THÊM VỀ KHỦNG BỐ.

Theo định nghĩa của khủng bố thì không nhất thiết phải đặt bom,ám sát,xả súng mới là khủng bố.Chỉ cần gây hoang mang .lo sợ trong dân chúng đã là khủng bố. Những năm đầu của nền đệ nhất Cộng Hoà,ở nông thôn nghe bà nội mình kể lại đang đêm các đồng chí du kích tha hồ về xử án những người quốc gia.Cứ đứng trên đầu giường tranh cãi,rồi đưa ra đầu làng "cắc bùm".Việc xử án này rất lạ lùng là nhiều khi người bị xử chỉ vì tranh cãi với người nhà của anh du kích về những việc rất nhỏ như mất một con gà ,một buồng chuối...nào đó.Ông bác mình văn hay chữ tốt,đạo cao đức trọng ,làng nước ai cũng thương nhưng chỉ vì lỡ làm lý trưởng mà bị xử theo kiểu đó. Ở trong Nam thì bằng chứng là chiếc búa từng đập đầu 10 tên ác ôn dưới đây là chứng tích khó chối cãi.Nó đâu có khác các video cắt đầu người của các tổ chức IS hiện nay. Nhưng có một điều mà các bạn ít để ý là VNCH không bao giờ ăn miếng trả miếng để khủng bố đồng bào miền Bắc mặc dù điều đó không khó.Ở Hà Nội còn xa xôi,chứ việc cho các đội đặc nhiệm vượt sông Bến Hải để khủng bố dân miền Bắc gieo hoang mang lo sợ là điều rất dễ dàng.Nhưng VNCH không bao giờ làm.Vì sao?Bởi vì họ luôn dùng chiến tranh quy ước .Không hèn hạ sử dụng cái gọi là "chiến tranh nhân dân"(đánh vào dân,lợi dụng dân làm lính).Việc Mỹ không kích miền Bắc cũng chính là lối chiến tranh mà ngày nay Mỹ và đồng minh vẫn dùng để đối phó với khủng bố. Cộng sản không chỉ dùng khủng bố với đồng bào miền Nam mà còn dùng với đồng bào miền Bắc.Cải cách ruộng đất chính là một hình thức khủng bố tinh thần dã man.Các gia đình nạn nhân đều lâm vào một bi kịch căng thẳng trong gia đình,cha con,anh em vợ chồng đấu tố nhau.Đội cải cách gieo rắc cái chết,sự sợ hãi khắp nơi.Thủ đoạn này nó tàn ác hơn việc bị giết chết bằng một quả bom.Vì nó kéo dài thời gian thụ án của nạn nhân. Viết như vậy để thấy rằng hôm nay đây chúng ta chỉ mới nghe tin tức về khủng bố đã vô cùng căm phẫn.Báo chí CSVN thì đổi giọng" Chúng bây chỉ có một đường :địa ngục".Trong khi đó ông tổ của nghề khủng bố vẫn đang nhởn nhơ ở thiên đường.Chúng đang khủng bố tinh thần cả một dân tộc: Công an đánh chết dân trong đồn CA cũng là khủng bố,cho côn đồ chặn đường đánh luật sư,đánh người biểu tình ...cũng là khủng bố. Hãy đừng R.I.P "nạn nhân khủng bố" đâu xa .Nên R.I.P chính ngay trong đất nước mình.

THƯ GỞI ÔNG NGÔ NGỌC TRAI

Thưa ông Ngô Ngọc Trai. Cách đây hơn một tháng,tôi có viết một comment trên trang viết của anh Huynh Ngoc Chênh.Nội dung của comment ấy như sau:" -Ở Việt Nam làm gì có luật sư mà chỉ có "cái gọi là luật sư".Bởi lẻ Việt nam là một nhà nước pháp quyền XHCN đặt dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN,trong đó luật pháp không phải là tối thượng.Và vì thế "cái gọi là luật sư" chỉ dùng để trang trí cho chế độ và để hợp thức hóa những bản án bỏ túi đã định sẵn". Đáng buồn là comment của tôi đã nhận được hơn 300 ý kiến đồng tình.Sau khi nghe tin có một vụ tuần hành của các luật sư vì vụ án của Trần Thu Nam và Lê Luân tôi khấp khởi mừng thầm vì mình sai,bởi ít ra các luật sư Việt nam không như tôi nghĩ,họ đã biết đoàn kết lại.Thế nhưng hôm nay đọc STT của luật sư Võ An Đôn tôi thấy lòng phấn khởi ,thỏa mãn bao nhiêu thì khi xem các ý kiến phản biện của ông tôi lại có cảm giác thất vọng tràn trề bấy nhiêu. Thưa ông. Cho phép tôi dùng một đại từ như thế bởi vì dùng từ"luật sư" đối với ông trong lúc này nó vô cùng khiên cưỡng.Vì sao "khiên cưỡng" chắc ông hiểu rõ hơn tôi.Nếu xét một cách công tâm,tôi sẽ phân tích để ông thấy STT của luật sư Võ An Đôn không có gì sai cả -Thomas Jefferson,luật sư và cũng là tổng thống thứ ba của nước Mỹ đã có một câu nói đáng nhớ:" Khi nhân dân sợ chính quyền của họ thì nơi đó có sự chuyên chế; khi chính quyền sợ nhân dân thì nơi đó có tự do." Bertrand de Jouvenel - 1903-1987 - triết gia chính trị người Pháp đã nhận định :"Một Xã Hội của Loài Cừu theo thời gian chắc chắn sẽ sinh ra một Chính Quyền của Loài Sói. " Lưu Hiểu Ba - nhà hoạt động nhân quyền người Trung Quốc cho rằng " Sự kém cỏi của những người bị trị đã sản sinh ra những người cầm quyền tồi tệ" Với ý nghĩa của những câu nói này ta cũng thấy rằng luật sư là người đại diện cho người dân để khiến chính quyền sợ.Vì sao họ phải sợ? Vì luật sư là người hiểu rõ luật pháp và luật pháp là cái cao nhất,trên tất cả mọi quyền lực.Đó là quyền lực của số đông.Thế nhưng trong một xã hội mà khi luật sư bị đàn áp nhưng không biết bảo vệ mình thì ông có thể hiểu là đối với người dân thấp cổ bé họng họ còn biết trông chờ vào ai? Xã hội đã trao cho luật sư một chức năng cao quý là biện hộ,bệnh vực bảo vệ cho công lý.Thế nhưng khi luật sư chỉ là những con rùa rút đầu thì quyền lực sẽ tha hồ ngự trị và chính quyền sẽ biến thành một loài sói hung hãn.Vụ án Đỗ Đăng Dư là một ví dụ điển hình trong trăm ngàn vụ án oan khác.Việc công an đánh chết người dân vô tội đã trở thành một vấn nạn đáng ghê tởm,đáng phỉ nhổ.Những lúc như thế này luật sư ở đâu? Các ông để cho công lý bị chà đạp,quyền lực hoành hành ,người dân cô thế bị bắt nạt nhưng lại không biết nhục,không biết hổ thẹn là phỉ báng vào cán cân công lý,biến công lý trở thành một diễn viên hài. Trở lại vụ việc tôi biết rằng ông là người dự định tổ chức một cuộc tuần hành của các luật sư để kêu gọi chính quyền bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa và sát cánh với việc hai đồng nghiệp bị đánh là Trần Thu Nam và Lê Luân.Nhưng trước sự trấn áp của chính quyền ông đã lặng lẻ rút lui và bỏ mặc cho luật sư Trần Vũ Hải đối phó mọi chuyện.Đã không có dũng khí ,ông lại tỏ ra lừa dối dư luận và bào chữa đầy nguỵ biện trước những nhận định thẳng thắn của luật sư Võ An Đôn.Tôi chỉ phân tích để ông thấy rõ nó mang tính nguỵ biện ở những điểm nào: Ông cho rằng việc tuần hành phải là kết quả kỷ lưỡng,tính toán trên mọi phương diện,bối cảnh.Trước hết phải xác định việc "tuần hành " là sáng kiến của ai? Chính ông chứ không ai khác.Ông bảo hoãn cuộc tuần hành nhưng lại không đưa ra lý do thuyết phục và có luật sư đã viết trên FB chuyện Từ Hải và Liêu Trai để châm biếm sự hèn nhát lợi dụng "tuần hành: để nâng cao tên tuổi cho mình nhưng sự sợ hãi chính quyền đã khiến ông bỏ bạn chạy lấy thân. Hãy nhìn sang Trung Quốc trong vụ án Lưu Nghiêu , văn phòng luật sư tại Thẩm Quyến, Quảng Châu tổ chức hội thảo phối hợp hoạt động. Một nhóm 30 luật sư lên tận Bắc Kinh để tố giác và cung cấp dữ kiện biện hộ cho đồng nghiệp.Trên mạng Internet thì tràn ngập phản ứng của công luận :”luật pháp phải đươc áp dụng một cách chí công vô tư không thiên vị” Phong trào tương thân tương trợ này cho thấy, giới luật sư Trung Quốc ý thức được trong thời đại mà khái niệm nhà nước pháp quyền chỉ có giá trị trên giấy, luật sư Trung Quốc hành nghệ trong một môi trường đầy nguy hiểm. Khi thấy một đồng nghiệp bị trù dập, họ biết là số phận của họ cũng sẽ như vậy.Thế nhưng các ông đã làm gì trong vụ Trần Thu Nam và Lê Luân? Chỉ là những hổ trợ trên giấy. Luận điểm "trách luật sư không dám xuống đường tại sao không nhìn ra là bao nhiêu người dân mình cũng không dám xuống đường" là một lập luận non nớt đối với những sống bằng nghề tư duy bằng logic.Một người không hành động không thể dựa vào ,vin vào một nhóm người khác không hành động.Vì con người có lý trí ,suy xét độc lập chứ không phải loài khỉ hay loài cừu.Nhưng thực tế lập luận của ông cũng mâu thuẫn bởi thực tế dù chế độ lập lờ không chịu thông qua luật biểu tình( dù điều 25 hiến pháp CHXHCNVN đã quy định rõ ràng về quyền biểu tình của người dân và theo quy tắc bảo hiến của các nhà nước tiến bộ trên thế giới thì quốc hội không được làm luật để ngăn cản điều đó) người dân vẫn xuống đường rầm rộ để phản đối Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Trường Sa,phản đối chuyến viếng thăm của Tập Cận Bình).Nhiều người dân đã đổ máu mình trên đường phố và không ít người đã cắt tay dùng máu để viết nên những khẩu hiệu yêu nước.Lẻ nào ông không nhận ra điều đó? Lẻ nào ông không thấy được các cuộc biểu tình của dân oan,của công nhân,của ngư dân trên khắp các tỉnh thành cả nước.Không lẻ trước một vấn nạn một bất công người ta phải làm như ông cân nhắc,tính toán mọi phản ứng của chính quyền rồi mới xuống đường?Chỉ có sự hèn nhát mới giữ chân lại thôi ông à.Hãy thừa nhận ngay điều đó. Luật sư là những người hiểu biết pháp luật vì vậy khi thấy đồng nghiệp mình bị bất công cũng là chính mình bị bất công.Do đó không cần phải vận động mà phải tự giác đấu tranh với chính quyền.Nhưng tôi nghĩ làm điều này đối với luật sư VN là điều xa xỉ.Bởi tôi đoan chắc rằng các ông lo ngại sẽ không được cấp giấy chứng nhận bào chữa và có khi bị tước bằng luật sư.Điều đó sẽ khiến các ông mất đi một khoản thu đáng kể trong việc chạy án.Những khoản thù lao giúp các ông sắm nhà,mua xe...Các ông không phải là luật sư của những người nghèo.Và công lý đối với các ông chỉ là một trò mua bán . Nhưng tôi nghĩ nói với những người như ông chỉ tốn thời gian vô ích.Bởi tôi nhận ra sự tầm thường trong các lập luận của các ông.Nhưng tôi nói trước để các ông hiểu rằng"gieo nhân nào,gặp quả đó".Các ông thờ ơ với số phận đồng nghiệp,vận mạng người dân thì một ngày nào đó chính quyền thối nát này cũng cho các ông nếm mùi của quyền lực.Lúc đó các ông đừng trách là người dân sẽ quay mặt với các ông.Hãy cứ yên tâm và yên phận để chờ chính quyền đến tát vào mặt,những kẻ hèn nhát được gọi bằng cái tên mỹ miều "luật sư" Thân chào ông.

NGUỒN GỐC CỦA KHỦNG BỐ.

16 Notifications Privacy Shortcuts Nhân chuyện khủng bố lan tràn khắp châu Âu và thế giới xin được bàn rộng ra một chút và có liên hệ đến cuộc chiến tranh Việt Nam với các bạn.Hiện tại có hai luồng ý kiến cho rằng :"Một,khủng bố có liên quan đến Hồi Giáo.Hai ,khủng bố không mang tính tôn giáo và không liên quan đến chính sách của các chính phủ phương Tây đối với cộng đồng người Hồi Giáo nhập cư" Cả hai luồng ý kiến đều có lý do và dẫn chứng để biện minh.Nhưng phải thấy rằng khủng bố đến từ tư tưởng.Không diệt được mầm mống khủng bố đến từ tư tưởng thì chưa thể diệt được tận gốc của khủng bố.Cho dù Pháp,Nga và trước đây là Mỹ có đổ bao nhiêu quân,sử dụng bao nhiêu máy bay,đạn pháo để không kích các nước Trung Đông,Bắc Phi... thì cũng không xóa được khủng bố.Cho dù có cải thiện các chế độ phúc lợi xã hội,giáo dục,ngăn chặn tình trạng nhập cư,di cư...ở châu Âu và Mỹ thì cũng chỉ giảm thiểu chứ không thể ngăn cản được mầm mống khủng bố. Chúng ta phải đặt câu hỏi là tại sao một con người có thể hy sinh mạng sống của chính mình để làm người khác chết theo? Vấn đề đó chỉ có thể đến từ quan điểm triết học,tức là tôn giáo.Tại sao các tôn giáo khác không có khủng bố cảm tử mà chỉ có Hồi Giáo.Đây là vấn đề đặt ra để xem lại thánh Alla và kinh Koran.Không phải ngẫu nhiên mà các nhà báo Charlie đã phải chấp nhận hy sinh tính mạng để giải thiêng đấng tối cao của Hồi giáo.Chính kinh Koran đã cổ vũ cho vấn đề "tự sát" và được các tổ chức cực đoan lợi dụng.Tất nhiên không phải đa số người Hồi Giáo đều chịu sự tác động của tư tưởng này nhưng không thể bác bỏ là những kẻ khủng bố đều suy nghĩ là giết kẻ thù báng bổ thánh Alla sẽ được lên thiên đàng.Nếu phương Tây không giải quyết được vấn đề mang tính triết học này thì tốn bao nhiêu bom đạn cũng vô ích. Trong cuộc chiến tranh Việt nam cũng vậy,Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa không hề thua trong các cuộc chiến quy ước nhưng họ lại không thể tiêu diệt được mầm mống của tư tưởng: chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa yêu nước bị xuyên tạc trá hình.Đó là tư tưởng được xem như một tôn giáo gây nên bao cuộc khủng bố tàn khốc trong lòng xã hội miền Nam. Do đó Mỹ và VNCH có tốn bao nhiêu bom đạn cũng chỉ đánh vào một chiếc cối xay gió.Cách tốt nhất để tiêu diệt mầm mống của tư tưởng này là để người dân sống chung với nó. Vì vậy những ý kiến cho rằng VNCH thua cuộc tháo chạy là những ý kiến thiển cận.VNCH quá chú trọng đến một xã hội dân chủ nên không sử dụng chiến tranh tâm lý,chiến tranh chính trị,tuyên truyền sâu rộng trong người dân về tác hại của CNCS,về các nền tảng cơ bản của một thể chế dân chủ ...Họ chỉ có thể nói:"Đừng nghe những gì CS nói mà hãy nhìn những gì CS làm".Câu nói đó có giá trị trong cả thời chiến và cả thời bình nhưng cũng thể hiện cả sự bất lực của VNCH trong vấn đề tuyên truyền.Biết và hiểu rất rõ kẻ thù nhưng không thể nói và chỉ cho dân hiểu theo nên đành lòng chấp nhận cho dân sống chung với kẻ thù để sáng mắt ra. 40 năm qua,dân đã sáng mắt ,ai trung ,ai gian,ai chính nghĩa ai phi nghĩa tất cả đều thấy rõ nhưng cái giá phải trả là khá đắt.Đó là sự tàn phá về tài nguyên thiên nhiên ,về đạo lý,về tình người,là sự tha hóa đến tận cùng mọi giá trị của một dân tộc.Nhưng trong tận cùng của sự tha hóa đó VNCH cũng đã tiêu diệt được mầm mống của tư tưởng: CNCS và chủ nghĩa yêu nước giả tạo -những điều mà trong chiến tranh dù có tốn bao nhiêu nhân lực,bao nhiêu bom đạn họ cũng không thể làm được. Lịch sử là một hành trình dài và bất tận.Trong chặng đường dài đó ,40 năm đâu có nghĩa lý gì.Khi đã tiêu diệt được kẻ thù nguy hiểm nhất trong tư tưởng người dân thì không thể nói là VNCH đã thua.Không tin cứ chờ xem.

Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2015

"TERROR IN LITTLE SAI GON": MỘT NỬA SỰ THẬT SẼ GIẾT CHẾT SỰ THẬT ?

Bốn mươi bảy năm trước,cùng một ngày, trong cùng một trận chiến, có hai hình ảnh được chụp lại. Hai tấm hình của hai sự kiện liên hệ với nhau lại có hai số phận rất khác nhau. Tấm hình thứ nhất, chụp ngày 1 Tháng Hai, 1968, của hãng AP, với lời chú thích: “Quân nhân thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đứng bên các thi hài một cấp chỉ huy một trung tâm huấn luyện của quân đội miền Nam và gia đình ông sau khi quân đội miền Nam tái chiếm trung tâm từ tay Việt Cộng. Người chỉ huy, cấp tá, bị chặt đầu; vợ và sáu người con của ông bị bắn chết bằng súng máy. Vương vãi gần các thi hài là đồ chơi và thức ăn. Ở bên phải là các bao cát; những đứa trẻ trốn phía sau các bao cát này. (Hình: AP Wirephoto via radio from Saigon).” Cùng ngày này, một sự kiện khác cũng được chụp lại, rồi truyền đi khắp thế giới, là hình Tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn một chỉ huy Ðặc Công Việt Cộng ngay trên đường phố Sài Gòn. Theo Wikipedia, hôm ấy, Tướng Loan “nghe tin người bạn đồng nghiệp cảnh sát và cả gia đình ông này, trong đó có hai đứa bé con đỡ đầu của Tướng Loan, bị đặc công Việt Cộng giết chết vài giờ trước đó. Khi nghe có đặc công Việt Cộng bị bắt gần khu vực nhà người bạn bị giết này, ông Loan không chịu nổi nên quyết định xử bắn tại chỗ; Bức ảnh của Eddie Adams đã tạo ra một làn sóng phẫn nộ khắp thế giới, vượt xa sự tưởng tượng của người chụp. Dư luận xôn xao, nhiều người đã bị sốc khi nhìn vào bức ảnh. Điều quan trọng hơn cả, bức ảnh đã thực sự đẩy mạnh phong trào phản chiến đang âm ỉ tại Mỹ. Viện Gallup vào giữa tháng 3/1968 cho biết trước Tết Mậu Thân có 1/5 số người được hỏi đã nhận mình là ‘diều hâu’ (ủng hộ chiến tranh), nhưng sau khi thấy bức hình tướng Loan bắn Bảy Lốp thì họ tự đổi thành ‘bồ câu’ (chống chiến tranh). Sau khi bức ảnh được cả thế giới biết đến, Eddie Adams sống trong tâm trạng bất ổn. Ông thuật lại: “Tôi mặc bộ đồ dạ hội sang trọng để lãnh giải thưởng và tiền thưởng về bức hình đó tại Đại hội Nhiếp ảnh ở Hòa Lan. Khi ban nhạc trổi bài quốc ca Hoa Kỳ, tôi bật khóc. Không phải tôi khóc vì sung sướng, mà khóc cho Tướng Loan. Cho tới giờ phút đó, tôi vẫn chưa ý thức được việc mình đã làm. Khi chụp tấm hình đó, tôi đã hủy hoại đời ông Tướng, vì ông bị dân chúng ở cả nước ông lẫn Hoa Kỳ lên án về tội giết tù binh chiến tranh. Trong bất cứ cuộc chiến nào, người ta cũng vẫn thường làm như vậy, nhưng hiếm có nhiếp ảnh viên nào chụp được mà thôi.” Ông còn nói: “Tướng Loan là một vị anh hùng của chính nghĩa. Bức hình tôi chụp đã lừa dối công luận. Ông ấy chiến đấu cho cuộc chiến của chúng ta (người Mỹ), không phải cuộc chiến của họ. Vậy mà mọi điều nhục nhã lại đổ trên đầu con người này” Về sau, Eddie Adams đã có một bài viết trên tạp chí Time về Nguyễn Ngọc Loan và bức ảnh Saigon Execution: “Viên tướng giết một Việt Cộng, còn tôi giết viên tướng bằng máy ảnh của mình. Hình ảnh vẫn là thứ vũ khí mạnh nhất thế giới. Người ta tin vào hình ảnh, nhưng hình ảnh cũng có thể nói dối, cho dù không cố ý ngụy tạo. Hình ảnh chỉ là một nửa sự thật... Điều mà bức ảnh đã không nói lên là 'Liệu bạn sẽ làm gì nếu bạn là ông tướng vào lúc đó, tại nơi đó, trong cái ngày nóng bỏng ấy, và tóm được một kẻ bị xem là khốn kiếp sau khi hắn vừa mới bắn tan xác một, hai, hoặc ba người lính Mỹ? Làm sao bạn biết được nếu chính là bạn, bạn sẽ không bóp cò?” Phan Thị Kim Phúc, hay còn được gọi là Em bé Napalm, sinh năm 1963) là người Canada gốc Việt, nổi tiếng với bức ảnh được trao Giải Pulitzer chụp ngày 8 tháng 6, 1972 tại Trảng Bàng bởi nhiếp ảnh gia Nick Út của hãng thông tấn AP, ghi lại hình ảnh một cô bé chín tuổi, da thịt và áo quần bị đốt cháy do bị bỏng nặng bởi bom napalm, khi cô đang di tản khỏi ngôi làng của mình. Youtube co một đoạn video ghi lại gần như toàn bộ diễn biến sự việc từ lúc máy bay ném bom cho đến khi các em nhỏ trong đó có Kim Phúc chạy ra. Bức ảnh của Nick Út chỉ là một trong những khoảnh khắc ấy. Cái lạ ở đây là các em nhỏ ấy lại chạy về phía lính Việt Nam Cộng hòa để kêu cứu mà không một chút sợ sệt, sao các em không chọn những người lính Cộng sản Bắc Việt cũng đang lẩn trốn ở ngay gần đó? Ngay từ đầu người dân đã biết lính Việt Nam Cộng hòa đến không phải để giết hại họ. Nếu muốn thế, lính Mỹ đã bắn hết những ai chạy đên và chẳng để Nick Út sơ cứu rồi mang Kim Phúc đi chữa trị . Bức hình ấy khiến nhân dân Mỹ có một cái nhìn khác về Cuộc chiến Việt Nam, góp phần đẩy mạnh phong trào phản chiến tại Mỹ và đòi Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Jane Fonda – biểu tượng của phong trào phản chiến Mỹ, người từng đến miền Bắc Việt Nam năm 1972 (năm mà bức ảnh “Em bé Nepalm” ra đời) mới đây cũng đã phải thừa nhận sai lầm và xin lỗi các cựu chiến binh Mỹ. Bốn mươi ba năm sau... Tối Thứ Ba, 3 Tháng 11, 2015, một cuốn phim mang tính phóng sự điều tra được thực hiện bởi Frontline và ProPublica có nhan đề “Terror in Little Saigon” (tạm dịch là Khủng Bố tại Little Saigon) được trình chiếu trên hệ thống truyền hình Public Broadcasting Service (gọi tắt là PBS) và mạng Internet. Theo nhà làm phim, từ năm 1981 tới 1990, có 5 nhà báo người Mỹ gốc Việt ở các thành phố khác nhau tại Hoa Kỳ bị ám sát, nhiều người khác trong cộng đồng bị đe dọa và tấn công. Các điều tra viên của Frontline và ProPublica tìm thấy điểm chung là các nhà báo bị sát hại này đều từng chỉ trích một tổ chức chống Cộng có tên là “Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam” (National United Front for the Liberation of Vietnam) gọi tắt là “Mặt Trận” (The Front), mà đứng đầu là ông Hoàng Cơ Minh, người sáng lập Đảng Việt Tân. Ngày 4/11/2105, ông Hoàng Tứ Duy, phát ngôn nhân đảng Việt Tân đã gửi đến tổ chức Frontline và ProPublica một lá thư nhằm yêu cầu điều tra nội bộ về phóng sự “Terror in Little Sai Gon” vì có quá nhiều thiên kiến và những cáo buộc sai lầm: "Tôi ghi nhận nỗ lực đáng quí của nhóm tường thuật để soi rọi những vụ sát hại ký giả người Mỹ gốc Việt chưa tìm ra hung thủ. Nhưng quý vị không thể giải quyết một sự việc bất công – tức sự sát hại không thể tha thứ các ký giả trong thập niên 1980 - bằng cách tạo ra một bất công khác. Khi viết chỉ để tạo sản phẩm hấp dẫn, dòng nội dung của phóng sự điều tra này có vấn đề. Kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, đã từng là vụ trưởng của "Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt nam đã đưa ra nhận định: " Sau khi nhìn kết quả của bài viết 72 trang và về cuộn phim, tôi kết luận A.C. Thompson không phải là một nhà báo có đạo đức, và có mục đích xấu với cả cộng đồng mình khi làm cuốn phim. Cuộc chiến Việt Nam ngày xưa đã là nạn nhân của truyền thông Mỹ, bây giờ cả cộng đồng người Việt vẫn còn là nạn nhân của truyền thông Mỹ -" Liên kết tất cả các vấn đề lại chúng ta có thể thấy một điểm chung đó là truyền thông tự do luôn có hai mặt: khi sự thật mà nó nêu ra mới chỉ là một nửa thì đó không phải là sự thật mà chính là lưỡi dao để giết chết sự thật .Nước Mỹ là nơi có luật pháp,sự thật cần phải được chứng minh trước khi nó phơi bày ra trước công luận.Một nhà báo không thể nói như A.C Thompson:"Mọi bằng chứng đang chỉ về phía Mặt Trận",thế tại sao không giao ngay các bằng chứng này cho cảnh sát? Với các mắc xích liên kết các sự kiện xưa nay Người Việt Hải Ngoại có lý do để đặt câu hỏi:"Liệu có một bàn tay lông lá nào đang đứng phía sau PBS?".Bởi lẻ trong cuộc chiến truyền thông này phía VNCH bao giờ cũng là nạn nhân?Và sâu xa hơn tổn thất lại gây nên cho chính người dân Việt nam,dân tộc Việt nam.

CHÍNH QUYỀN CỦA ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM CÓ ĐỘC TÀI KHÔNG?

Muốn biết thể chế chính trị của ông Ngô Đình Diệm có độc tài hay không ta chỉ cần hiểu nền tảng căn bản của dân chủ là gì? Đó là một thể chế tam quyền phân lập,đa đảng,tự do báo chí và tôn trọng quyền con người Theo nhà khoa học chính trị Larry Diamond, chế độ dân chủ bao gồm bốn yếu tố chính:". 1. Một hệ thống chính trị cho việc lựa chọn và thay thế các chính phủ thông qua bầu cử tự do và công bằng. 2. Sự tham gia tích cực của công dân, trong chính trị và đời sống dân sự. 3. Bảo vệ quyền con người của mọi công dân. 4. Một nguyên tắc của pháp luật, trong đó các luật và thủ tục áp dụng chung cho tất cả các công dân ". Dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, chính quyền đi theo chủ nghĩa Nhân vị. Trong khoảng 5 năm, Việt Nam Cộng Hòa đã có một số thành tựu: xã hội ổn định, kinh tế phát triển, định cư gần 1 triệu dân di cư từ miền Bắc, thành lập Viện Đại học Huế... Tự do báo chí thật sự với hơn 50 tờ báo tư nhân các loại tại Sài Gòn . Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956 khẳng định việc phân chia quyền lực của chế độ là tam quyền phân lập và có mục tiêu để hai ngành lập pháp và hành pháp kiểm soát lẫn nhau. Về ngành tư pháp thì quyền lực kém hơn và không được độc lập hoàn toàn vì lệ thuộc vào Bộ Tư pháp và phủ Tổng thống bổ nhiệm và điều hành. So sánh với các quốc gia khác thì Hiến pháp 1956 dồn nhiều quyền lực vào ngành hành pháp hơn cả vì tổng thống có những đặc quyền trong những trường hợp nội loạn, chiến tranh hay khủng hoảng tài chánh. “Nếu chúng ta định nghĩa dân chủ là một hệ-thống chính-phủ do dân bầu ra để phục vụ quyền lợi của người dân và trong hệ-thống chính quyền này, quyền lực nằm ở trong tay của dân-chúng, thì chế-độ làng hay xã, như hệ-thống làng-xã cổ của Việt-nam, qủa thật là một chế độ dân-chủ đặc biệt. Điều độc-đáo nhất của cái nền dân chủ sơ khai này chính là ở chỗ tự nó hình thành, mang bản chất tự-trị, rồi tự nó laị thích-nghi với một hệ-thống trung ương chuyên-chế của chế-độ quân chủ Á-đông. Cho nên có thể nói quốc-gia Việt-nam giống như một hệ-thống chính quyền liên-bang gồm có nhiều tiểu-bang nhỏ và trên hết là một chính-quyền liên-bang. . . . . . Tổ chức xã-hôị và chính-trị của Việt-nam gồm có hai hệ-thống đối lập nhau và chồng lên nhau. Ở dưới hạ-tầng là một nền dân chủ đại-nghị, tự-trị và đaị-chúng; ở trên thượng tầng là một nền quân-chủ chuyên chế, tập-trung quyền lực bằng một hệ-thống quan-lại. Hai định chế này tuy khác nhau trên căn bản nhưng laị cùng tồn tại qua bao nhiêu thế-kỷ với biết bao nhiêu biến đổi của lịch sử, trong lúc hòa bình thịnh vượng cũng như lúc chìm trong nội chiến và ngoại xâm.Lý thuyết dân chủ làng xã của ông Ngô Đình Diệm được xây dựng trên nền tảng này. Thứ nhất, để nói về tự do dân chủ chúng ta có thể thấy rõ nét nhất là văn hóa và biểu tình, tự do lập đoàn thể, hội họp và thậm chí cả chống chính phủ khác hẳn so với VNDCCH và CHXHCNVN hiện nay là độc tài toàn trị. Thứ hai VNCH có tự do về tư tưởng và VNDCCH thì ngược lại rất độc tài và quân phiệt chỉ nhằm giữ cho được “Chủ thuyết “ cộng sản Thứ ba, Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa mang triết lý giáo dục nhân bản, dân tộc, và khai phóng. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa nhấn mạnh quyền tự do giáo dục, và cho rằng “những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn”. Như vậy có thể kết luận chế độ của ông Ngô Đình Diệm không phải là một chế độ độc tài mà là một chế độ ở vào thời kỳ đầu của mọi nền dân chủ,đó là nền dân chủ khiếm khuyết.Đây là một giai đoạn tất yếu mà mọi nền dân chủ trên thế giới đều trải qua .Lúc này các chỉ số dân chủ đều còn rất thấp,chưa hoàn thiện và quyền hành được dành rất nhiều cho hành pháp để trấn áp các thế lực có thể tiêu diệt nền dân chủ đó. Với Ngô Đình Diệm do đặc điểm dân trí Việt Nam ông không thể áp dụng nền dân chủ kiểu Mỹ mà sáng tạo ra một nền dân chủ độc đáo : Đó là dân chủ theo lối làng xã.Về thể chế chính trị tam quyền phân lập,tôn trọng hiến pháp,thành lập lưỡng viện quốc hội,nhiều đảng phái trong chính phủ,có quyền lập hội,biểu tình...chỉ có điều do chính sách tuyên truyền của Cộng Sản ông có hơi o ép trong vấn đề báo chí nhưng điều này đã được nới rộng dưới thời đệ nhị cộng hoà. Nếu xét theo hoàn cảnh của các nước cùng thời như Hàn Quốc ,Đài Loan,Phillippines,Indonesia...thì các nước này đều trao quyền cho hành pháp giống như đệ nhất cộng hoà.Và các bàn tay sắt như Park Chung Hee,Tưởng Giới Thạch,Ferdinand Marcos,Shuharto... đều tàn bạo hơn Ngô Đình Diệm nhiều.Kết quả là các nước này đều vượt qua giai đoạn "dân chủ khiếm khuyết" ban đầu và đất nước không rơi vào tay cộng sản.Do đó có nếu có trách ông Ngô Đình Diệm thì chỉ nên trách ông quá nhân từ chứ không thể nói rằng ông độc tài.

GIÁO DỤC,Y TẾ VÀ KINH TẾ DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM.

Trong khi ở Miền Bắc, giáo dục rất thiếu sót chương trình trung học chỉ có 10 năm, và đội ngũ khoa học kỹ thuật của họ rất tồi tệ, thì ở Miền Nam Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã có những điểm sáng chói như sau: Chương trình trung học ở Miền Nam đúng theo tiêu chuẩn quốc tế là 12 năm. Chương trình đại học cũng có chất lượng của các nước phương tây. Chương trình mở mang giáo dục dưới thời TT Ngô Đình Diệm đem lại số học sinh và số trường trung học tiểu học tăng vọt hàng năm với tốc độ khoảng 60% 70%. Từ năm 1957 đến 1961, số học sinh và trường học tăng lên gấp 4. Ông cũng cho thành lập rất nhiều các trường dạy nghề. Về giáo dục đại học, tổng số sinh viên tăng trong vòng 3 năm là 60% vào năm 1957. Đại Học công lập Huế và đại học tư thục Đà Lạt được mở ra dưới thời của TT Diệm theo sau là Viện Đại học Sài Gòn The University of Saigon, là một viện đại học công lập, được thành lập vào năm 1957 dưới chính quyền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Đây là viện đại học được xem là có uy tín nhất ở Miền Nam Việt Nam, cung cấp các giáo sư đi thỉnh giảng ở các viện đại học khác. Viện đại học này cấp bằng cử nhân, thạc sĩ, và tiến sĩ. Năm 1961 ông cho thành lập Đại Học Y Khoa Huế. Số sinh viên chỉ trong vòng 3 năm sau khi ông về nước chấp chánh đã tăng lên gấp 4 lần đồng thời chính phủ cũng có chương trình cấp học bổng cho sinh viên du học ở các nước tiên tiến phục vụ mục tiêu Việt Nam hóa đội ngũ giáo sư đại học với tiêu chuẩn quốc tế. Trường Đại Học Y Khoa là một dẫn chứng cụ thể rằng Tổng Thống coi trọng quốc thể, vào năm 1961 trường này đã hoàn toàn không còn giảng viên người Pháp. Xin được lập lại, chỉ sau 5 năm cầm quyền, ông đã xây dựng được một hệ thống Đại Học mà các nước trong vùng phải kính nể. Ông đã chứng minh cho thế giới thấy người Việt Nam hoàn toàn không thua bất cứ một dân tộc nào trên thế giới. Nhiều bệnh viện nổi tiếng chẳng hạn bệnh viện Bình Dân cũng được thành lập để phục vụ nhu cầu chữa bệnh cho dân chúng và giảng dạy y khoa. Kinh Tế: Nhờ kiến thức sâu rộng về chính trị, bản chất thông minh, trọng của công, cần kiệm và rất cẩn trọng trong việc sử dụng tiền viện trợ, ông đã lèo lái đất nước đưa đến bến bờ của sự thanh bình thịnh vượng và nhân quyền. Qua chương trình CIP ( Comercial Import Program), mỗi năm ông nhận viện trợ kinh tế của Hoa Kỳ là 322 triệu năm 1955, và nhờ việc sử dụng hiệu quả và chính xác, viện trợ Mỹ đã tăng lên 450 triệu Mỹ Kim sau đó. Với sự trợ giúp này, ông lại nhanh chóng biến Miền Nam thành một hòn ngọc viễn đông trong một thời gian kỷ lục là ba năm, đến nỗi tổng thống Eishenhower đã đón ông với 21 phát súng đại bác. Toàn bộ hệ thống giao thông thủy bộ và đường xe lửa xuyên Việt được tái thiết lại, phục vụ nhu cầu thương mại và sản xuất và nông nghiệp. Chương trình cải cách ruộng đất và khuyến nông đã biến những thửa ruộng và đồn điền bỏ hoang thành những cánh đồng phì nhiêu và đồn điền trù phú, làm đem lại số gạo và cao su xuất cảng tăng vọt. Đơn cử là chỉ mới năm 1957 mà số gạo sản xuất là 3 triệu tấn, chăn nuôi heo gà vịt phát triễn mạnh và đã xuất cảng được một số lượng đáng kể hàng năm Điều quan trọng đáng nói là dù Miền Nam căn bản là một quốc gia nông nghiệp, ông vẫn quyết tâm biến Miền Nam trở thành một quốc gia kỹ nghệ. Giai đoạn này chúng ta thấy Miền Nam đã có những nhà máy ván ép, nhà máy giấy, nhà máy dệt, nhà máy xà bông, viện bào chế dược phẩm v.v. TT Ngô Đình Diệm là con người thấy xa trông rộng và rất chu đáo trong tất cả mọi kế hoạch phát triễn quốc gia. Chương trình mở mang và nâng cao chất lượng giáo dục song song với phát triễn kinh tế là một dự án đồng bộ và hoàn chỉnh nhằm chuẩn bị tài nguyên con người để thực hiện việc kỹ nghệ hóa Miền Nam. Các trường đại học và các trường dạy nghề đào tạo công nhân và chuyên viên kỹ thuật ở mọi mọi lãnh vực từ hành chánh đến khoa học đến kỹ thuật để có thể đáp ứng nhu cầu kỹ nghệ hóa đất nước. Trung tâm nguyên tử Đà Lạt và đập Đa Nhim cộng với 2 kế hoạch ngũ niên 1957 đến 1961, 1962-1967 và chương trình đẩy mạnh mở mang giáo dục là một bằng chứng về một kế hoạch phát triễn rất hợp lý và đồng bộ của tổng thống để có đủ tài nguyên vật chất và tài nguyên con người cho một quốc gia kỹ nghệ. Nếu tổng thống còn sống, thì chắn chắn Miền Nam còn tiến xa hơn Nam Hàn gấp bội, một Nhật Bản thứ hai cũng không phải là điều nói quá, vì ông và Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, cụ Phan Bội Châu là người đã sống ở Nhật hiểu biết về Nhật. Tuy không tin tưởng và cũng không hợp tác với chính phủ Nhật, nhưng ông rất ngưỡng mộ thể chế chính trị, sự phát triễn kinh tế khoa học của Nhật. Khuôn mẫu chính trị và sự tiến bộ của Nhật Bản là điều TT Ngô Đình Diệm muốn Việt Nam đạt được. Theo Chính Khí Việt.

TẠI SAO PHẢI CẦN NỀN TẢNG"LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ"?

Không phải ngẫu nhiên mà Benoit de Tréglodé chủ nhiệm chương trình Á đông ở Học viện Khảo cứu Chiến lược Trường Quân sự Pháp (IRSEM), đồng thời cũng là nghiên cứu viên Trung tâm Đông Nam Á và là cựu giám đốc Học viện Nghiên cứu Đông Nam Á hiện đại (IRASEC) ở Bangkok,một nhà Việt nam học đã đưa ra nhận định: "Ở Việt Nam cũng như ở hải ngoại, những blogs, đồ đệ của trash news, đánh vào sự ưa thích của dân gian, rất được nhiều người đọc. Tâm trạng hiện giờ là mọi người chỉ thích nghe những tin đồn, những tố cáo, những chỉ trích đến từ mọi phía trong xã hội Việt Nam hiện đại, nhất là ở miền Nam : càng như tuồng chèo, càng nhiều chế nhạo, càng trào phúng, càng biếm họa, càng được nhiều người đọc. Mọi người thích sự nhả nhớt hơn là nói về hệ tư tưởng mà về lý thuyết, Đảng hoàn toàn bị tắt nghẽn " Bằng chứng là bài viết rất hay của ông ,mình đưa lên hai ngày nay có rất ít người đọc.Dân mạng phần lớn hóng tin để có dịp chửi là nhiều,không ai quan tâm đến một vấn đề căn bản là: Lý luận chính trị.Bởi lẻ nó hao tổn nhiều chất xám. Nhưng không có lý luận chính trị ,dân trí không phát triển được bao nhiêu và rất dễ bị lung lạc bởi những luận điệu ngụy biện.Từ đó sẽ hình thành một đám đông quần chúng theo đuôi. Đơn cử như trường hợp nhận định về độc tài và dân chủ,hiện tại dù có internet nhiều người vẫn lầm lẫn,đừng nói đến 55 năm trước,dưới thời TT Ngô Đình Diệm,thời kỳ mà xã hội còn tranh tối tranh sáng. Đánh giá ông Ngô Đình Diệm độc tài hay không ,chẳng thể chỉ căn cứ vào một tấm hình như dưới đây,hoặc một bài hát "SUY TÔN NGÔ TỔNG THỐNG" để cho rằng ông gia trưởng,đề cao cá nhân,độc tôn độc tài.Người có kiến thức lý luận chính trị phải căn cứ vào thể chế chính trị do ông tạo ra để trả lời các câu hỏi sau đây: - Có phải ông đã nắm cả ba quyền hành pháp,lập pháp và tư pháp hay không? - Có phải ông cấm báo chí tư nhân hay không? - Có phải ông cấm lập hội ,biểu tình hay không? - Có phải ông bắt buộc phải theo chủ nghĩa"nhân vị" hay không? - Có phải ông bất chấp hiến pháp,luật pháp để xử tử,bỏ tù những người bất đồng chính kiến hay không? Nếu câu trả lời là không thì không thể nói là ông "độc tài".Chế độ CS rất giỏi mị dân và xuyên tạc,nói xấu đối thủ chính trị của mình.Do vậy chúng không đi vào nền tảng thể chế của gia đình họ Ngô mà thường công kích vào cái gọi là hiện tượng. Chẳng hạn để nói chế độ NDD đàn áp sinh viên,Phật Giáo chúng sẽ nêu dẫn chứng là sinh viên bị cảnh sát bắt vì đấu tranh yêu nước nhưng không bao giờ nêu sinh viên bạo động,đốt xe cảnh sát nên mới bị bắt.Phật giáo biểu tình bất bạo động thì đâu có vấn đề gì chỉ khi cộng sản đội lốt nhà sư kích động hoặc giả tự thiêu để gây tâm lý chia rẻ thì mới bị trấn áp. Các đảng phái như Bình Xuyên ,Hòa Hảo nếu không có vũ trang để âm mưu lật đổ chính quyền,chỉ hoạt động như một đảng đối lập thì cũng sẽ không có các cuộc hành quân tiễu trừ Chế độ CSVN thường nêu ra một luận điểm ngụy biện là"lợi dụng quyền tự do dân chủ để vi phạm luật pháp" nhưng chúng đâu cho cái quyền tự do dân chủ đó đâu mà lợi dụng?Muốn biểu tình thì chúng cho CA đến nhà nhốt lại,đổ keo vào ổ khóa,ló mặt ra đường là bị bắt.Trong khi đó chính quyền ông Diệm lại cho dân cái quyền đó.Vì vậy mới có đội quân tóc dài đấu tranh chính trị,mới có biểu tình chống chính quyền,mới có phong trào Phật Giáo...Trường hợp này mới gọi là "lợi dụng quyền tự do dân chủ" Chính quyền cho báo chí tư nhân tức là cho quyền tự do ngôn luận nhưng anh lại dùng cái quyền đó để đi tuyên truyền "chủ nghĩa cộng sản",vi phạm hiến pháp thì buộc phải trấn áp,khi trấn áp thì bảo độc tài đó cũng là ngụy biện. Chính quyền sử dụng luật 10/59 để bảo vệ nền dân chủ non trẻ nhưng mới chỉ giết có một người là Hoàng Lệ Kha thì đã bị CS vu vạ là đàn áp ,xử tử người yêu nước.Không lẻ cứ dân chủ là khoanh tay đứng yên để những kẻ hủy hoại nền dân chủ ấy nhằm thiết lập một chế độ độc tài khác thì đó mới là dân chủ. Do đó với môt người không có lý luận chính trị thì chỉ cần CS nêu lên một vài hiện tượng là đã ngã theo nhưng những người hiểu biết họ sẽ dùng cái nền tảng,cái kiến thức căn bản về độc tài ,dân chủ để suy luận và sẽ nhận ra rõ bản chất của vấn đề.Và cũng có thể phản biện bất kỳ luận điệu nào của DLV một cách hợp lý. Ngay hôm nay đây số người đọc các bài viết nghiêm túc trên internet vẫn còn rất ít.Đa số những trang tung tin giật gân lại được theo dõi nhiều hơn và đôi lúc bị cho ăn quả lừa vẫn chẳng hề hay biết.Đó cũng là một vấn đề về dân trí người Việt hôm nay.

Một Xã Hội của Loài Cừu theo thời gian chắc chắn sẽ sinh ra một Chính Quyền của Loài Sói.

"In the long run every Government is the exact symbol of its People, with their wisdom and unwisdom ; we have to say : Like People like Government". ( Thomas Carlyle - 1795-1881 - triết gia, lý luận gia, sử gia, văn sĩ châm biếm và giáo viên người Scotland trong thời Victoria ). Trong một khoảng thời gian dài thì Chính Quyền là biểu tượng chính xác của Dân Chúng trong xã hội mà nó cai trị, với sự khôn ngoan cũng như sự dốt nát của chính họ ; chúng ta cần phải nói rằng : Dân Chúng nào thì Chính Quyền đó. * "A Society of Sheep must in time beget a Government of Wolves". ( Bertrand de Jouvenel - 1903-1987 - triết gia chính trị người Pháp ). Một Xã Hội của Loài Cừu theo thời gian chắc chắn sẽ sinh ra một Chính Quyền của Loài Sói. * "La faiblesse des gouvernés produit des gouvernants mediocre". ( Lưu Hiểu Ba - 1955 - nhà hoạt động nhân quyền người Trung Quốc ). Sự kém cỏi của những người bị trị đã sản sinh ra những người cầm quyền tồi tệ.

HAI MƯƠI MỐT PHÁT ĐẠI BÁC

21 phát đại bác Chúng nhắm bắn vào lịch sử. Tan tác Bốn nghìn năm... Của Hưng Đạo Đại Vương ,của Bà Trưng Bà Triệu Của những chiến công hiển hách,những điều kỳ diệu Những hoài vọng những ước mơ Và có cả những vần thơ Vẫn réo gọi tên đến bạc đầu ngọn sóng Của Ải Chi Lăng,gò Đống Đa hào hùng bất tử Đã từng vùi chôn bao loài thú dữ Đến từ phương Bắc,,, Nhưng có lẻ bắt đầu từ hôm nay. Tất cả đã lùi vào quá khứ. Khi chúng đành lòng Nhổ toẹt vào tất cả Ngay giữa đất Thăng Long Chúng làm nhục những con rồng . Ô uế các dòng sông. Chúng cúi mặt đằng sau mông những thằng cướp Chúng liếm gót giày kẻ xâm lược ngoại bang. Chúng thẳng tay đàn áp đồng bào. Chúng làm sôi trào lòng căm hận Những người con cắt tay lấy máu mình Viết nên những lời bừng bừng lửa giận. Trước những kẻ đánh mất lương tri. Những tên tội đồ bán nước. Chúng chẳng chút gì hổ thẹn trước hồn thiêng sông núi. Chúng chẳng biết thế nào là nhục là vinh. 21 phát đại bác Chúng bắn vào tim anh,tim tôi,tim chúng ta. Trái tim những người yêu nước Chúng khắc ghi một vết nhơ hằn sâu vào lịch sử. Để một trăm năm năm sau hay ngàn năm nữa. Những dòng máu ấy. Đã đổ xuống hôm nay Để giữ vẹn nguyên một hình hài Tổ quốc Có những lúc ta cảm thấy mình bất lực. Trước sự vô cảm của dòng đời Khi ta không thể kết thành một khối. 80 triệu con người. Để chúng mặc nhiên dội vào lòng ta nhức nhối Bóng tối của đêm trường ... Bắc Thuộc 6/11/2015

Thứ Năm, 29 tháng 10, 2015

BÀI VIẾT CỦA MỘT NGƯỜI LÍNH VNCH : NẾU VNCH THẮNG ?

“TRONG TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM CỘNG HOÀ THẮNG QUÂN CỘNG SẢN VIỆT NAM, THÌ LIỆU TÌNH HÌNH CÓ KHÁC HƠN CHÚT NÀO CHĂNG? ” Tôi là lính, nên xin trả lời rất nhanh và rất đơn giản, ngay bây giờ, và dễ nhận thấy. 1. Trước hết, dù là giả thuyết, câu hỏi sai từ trong căn bản . Miền Nam không tấn công miền Bắc, nên không thể có chiến thắng. Sau khi ký hiệp định đình chiến 1954 , miền Nam lo xây dựng đất nước, ổn định đời sống toàn dân, chỉ muốn sống trong hoà bình .. Ngay từ lúc đó , cộng sản VN đã gài người ở lại , nằm vùng , chuẩn bị sẵn cho cuộc xâm chiếm miền Nam , với sự viện trợ tối đa của cả Nga, lẫn Tầu như đã thấy . Mầm mống chiến tranh , cội nguồn của bao tội ác , hi sinh hàng triệu sinh mạng đồng bào cả Nam lẫn Bắc , xương máu chất chồng , bom đạn khói lửa ngút trời . . . xuất phát từ kẻ chủ chiến , từ kẻ xâm lăng , không phải từ phía chống đỡ , phải tự vệ . Rõ như ban ngày ! Đặt câu hỏi theo kiểu này là một lối lập lờ đánh lận con đen, để lừa bịp, để đánh tráo , nhì nhằng giữa hai phe đánh nhau. Vì vậy phải bác bỏ câu hỏi ấy ngay từ đầu , trước khi thử đi vào giả thuyết chỉ để cho rõ bản chất của hai chế độ .. 2. Giả dụ rằng, trong trường hợp mà miền Nam thắng vào tháng Tư 1975, thì tôi đoan chắc tình hình tốt hơn nhiều, nhiều lắm, và ai cũng có thể hiểu được, không chút gì ngụy biện. Tôi nói theo kiểu lính nên rất dễ hiểu. - Này nhé. Lúc ấy người dân miền Nam giàu hơn người dân miền Bắc rất nhiều. Dân miền Nam không thể nào có ý nghĩ quái đản là ra Bắc để vơ vét , lấy về , mà trái lại sẽ rất vui vẻ mang quà ra Bắc cho thân nhân, đồng bào mình ngoài đó. Sẽ không có cảnh đày, đồng, đạp như đã thấy. Hàng triệu dân miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 chắc chắn sẽ hối hả mang đủ thứ về quê cho bà con mình. Cuộc tương phùng sẽ rất cảm động, rất thân tình, rất vui mừng, chứ không phải ngỡ ngàng như đã thấy. - Chính quyền miền Nam là một đồng minh trong thế giới Tự Do , tôn trọng quyền tư hữu , nên cũng sẽ không có cảnh đánh tư sản , kiểm tra , cướp của , cướp nhà như CS đã làm đối với dân miền Nam. Nếu chưa thể nâng mức thu nhập ở miền Bắc lên ngang với đời sống ở miến Nam thì cũng không có cảnh chặt ngang cho tất cả nghèo như nhau. Cũng không có cảnh đuổi dân đi vùng kinh tế mới để chiếm nhà, cướp đoạt tài sản, như đã thấy . - Các cơ sở nhà nước, các khu vực quân sự sẽ không bị ai chiếm đoạt vì luật pháp VNCH không thừa nhận quyền sở hữu cho bất cứ cá nhân hay đảng phái nào. Do đó sẽ không có cảnh con ông, cháu cha nào chiếm đoạt công thự, đất đai nhà nước làm của riêng, như đã thấy . - Miền Nam đang được nhiều nước tân tiến, giàu có ủng hộ, nên họ sẵn sàng viện trợ để tái thiết sau chiến tranh. Lúc ấy , nền kinh tế miền Nam tự nó đã không hề thua sút các nước tại Á Châu , lại có dịp vươn mình lên, phát triển hơn, ngay tức khắc , không hề bỏ lỡ cơ hội hàng chục năm, để dân phải thiếu cả gạo để ăn, phải ăn bo bo, bột mì . . . như đã thấy .. - Điều quan trọng nhất là Tình Người trong thời kỳ chuyển tiếp. Sẽ không bao giờ có một tinh huống tàn nhẫn, vô nhân đạo như đã thấy. Điều này thuôc về bản chất của hai chế độ. Cộng sản là giết lầm hơn bỏ sót, đào tận gốc, trốc tận rễ, truy cứu lý lịch ba , bốn đời , dù chỉ là đứa bé mới cắp sách đi học, dù là thầy tu, dù là giáo viên, là bác sĩ, y tá . . .. Miền Nam thì khác hẳn, nên mới có nhiều Việt cộng nằm vùng trong mọi cơ quan, ngay cả trong thời gian chiến tranh. Thế thì miền Nam sẽ giải quyết cách nào đối với các cán binh , cán bộ miền Bắc ? Đang khi còn chiến tranh mà miền Nam còn áp dụng chính sách Chiêu Hồi, hễ buông súng, bỏ ngũ, cam kết lương thiện làm ăn, thì tự do sinh sống như mọi người. Dĩ nhiên phải trình diện, giao nộp toàn bộ vũ khí, khai báo lý lịch để thiết lập hồ sơ cá nhân, xác định nơi cư trú và lần lượt trả về nguyên quán với gia đình, như thủ tục chiêu hồi vẫn làm trong nhiều năm, như đã thấy. Và dù có người nào bị tạm giữ trong một thời gian chắc cũng không phải đói mờ, đói mịt , khoai sắn cũng không đủ no như dưới thời công sản. Gia đình cũng sẽ không bị cấm đoán, hạn chế việc tiếp tế thăm nuôi như đã thấy. Và chắc chắn sẽ không có màn lừa bịp mười ngày thành ba năm, rồi bảy, tám, mười, mười lăm năm, như đã thấy! Và sẽ không có hàng ngàn nhà tù từ Nam tới Bắc như đã thấy! Cần nhấn mạnh một điểm rất nhân bản của miền Nam là thủ tục bảo lãnh người thân. Gia đình nào có người thân bị bắt vì hoạt động cho cộng sản, nếu chịu đứng ra bảo lãnh trách nhiệm, thì phần lớn sẽ được cứu xét cho về với gia đình, ngay trong lúc chiến tranh. Hầu như gia đình nào cũng có thân nhân ở bên này hay bên kia. Sau chiến tranh, bà con miền Nam sẽ được khuyến khích đứng ra bảo lãnh cho thân nhân trong hàng ngũ cộng sản, trở về với gia đình. Chế độ cộng sản không khuyến khích thủ tục ấy, ngay cả cha-con, vợ-chồng, anh-em. Trái lại, họ khuyến khích, thúc đẩy thân nhân đi vào tù “học tập ” cho tốt , “lao động” cho giỏi , để khỏi bị đảng nghi ngờ , như đã thấy ! Nhìn sự kết hợp hai miền đông-tây của Đức , người ta có thể hình dung ra phần nào cảnh kết hợp hai miền Nam-Bắc , dù không nhất thiết phải giống y như thế . Phần quan trọng hơn nữa là Tổ Quốc Việt Nam đã không bị mất nhiều phần lãnh thổ về tay Tầu cộng , vì không bị lệ thuộc vào “đồng chí vĩ đại” phương bắc , – kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt. Sẽ không mất ải Nam Quan, không mất một phần thác Bản Giốc , không phải dấu giếm đồng bào mình , lén lút ký kết hiệp ước biên giới với rất thiệt thòi cho dân tộc mình , như đã thấy ! Tóm lại, theo cái nhìn của một người lính già, rất đơn giản nhưng rất thật, từ đời sống vât chất đến đời sống tinh thần, theo giả thuyết trên, thì nếu miền Nam thắng , thực tế tốt hơn rất nhiều. Tôi cố tình lập lại nhiều lần ba chữ “như đã thấy” để chứng minh đó là một thực tế rất dễ nhận thấy .. Và nếu (vẫn nếu) như thế, thì giờ này tớ đang nghỉ hưu ở Sàigòn !./-

VÌ SAO CHÚNG TA SỢ?

Chúng ta sợ vì chúng ta không biết gì về nó.Chúng ta sợ vì chúng ta không biết quyền của mình. Hồi nhỏ chúng ta thường hay sợ ma,sợ bóng tối bởi vì chúng ta không biết thế giới này có ma hay không?Lớn lên một tí nỗi sợ ấy tự dưng tan biến vì ta biết rằng thế giới này làm gì có ma,linh hồn con người khi chết sẽ tan vào cõi vĩnh hằng.Nếu có ma những kẻ làm ác ,giết oan người vô tội sẽ bị những con ma ấy trả thù trước hết. Lớn lên tí nữa thì sợ hãi quyền lực,sợ những bóng áo vàng,sợ tất cả những gì có thể phá vỡ sự bình yên trong cuộc sống của mình. Chúng ta sợ nhưng tai họa vẫn cứ giáng xuống vì nó dường như không có mắt.Trong tất cả những nỗi sợ đó,nỗi sợ hãi quyền lực thường đè nặng lên người dân và ảnh hưởng lâu dài nhất. Chế độ độc tài không bao giờ muốn để người dân biết quyền của mình.Muốn vậy chúng phải thi hành chính sách ngu dân.Một trong các chính sách ngu dân phổ biến nhất là xây dựng sự sùng bái lãnh tụ,xây dựng các tượng đài.Chúng không bao giờ muốn để dân biết các lãnh tụ cũng chỉ là phường giá áo túi cơm,cũng đầy đủ tham ,sân ,si,dục vọng...Vì vậy chúng phải thêu dệt nên các huyền thoại xung quanh các lãnh tụ đó.Nhiều khi chính các lãnh tụ lại tự tay thêu dệt huyền thoại cho mình,cho đảng của mình. Từ các huyền thoại đó chế độ mới bắt đầu các biện pháp làm cho dân sợ,đó là chế độ công an trị,là hộ khẩu,là lý lịch,kiểm điểm,phê bình,đấu tố....Hào quang chiến thắng,sự sáng suốt,tài ba của bác và đảng,của quân đội và nhân dân anh hùng...là những sản phẩm giả tạo.Lý tưởng cộng sản cũng là giả tạo.Cái thực nhất chính là chế độ được xây trên nỗi sợ của người dân. Chính vì vậy trong chiến tranh Nam Bắc người lính phía bắc cũng sợ chết như người lính phía Nam,bởi tất cả ai cũng yêu sự sống.Thế nhưng người lính miền Bắc không còn đường lùi.Quay đầu họ sẽ đối diện với cái chết của một sinh mệnh chính trị,sự dè biểu của gia đình,làng xóm quanh một cái vòng kim cô mà các thế lực độc tài giăng ra để ràng buộc những kẻ chết thế.Đây chính là sự trăn trở trong nhật ký của Đặng Thùy Trâm,Nguyễn Văn Thạc,của Kiên(Nỗi buồn chiến tranh-Bảo Ninh),của Quân(Tiểu thuyết vô đề-Dương Thu Hương).Chính vì vậy họ chỉ còn một con đường,tiến lên phia trước.Chỉ có số phận mới khiến họ sống sót sau cuộc chiến,làm một kẻ chiến thắng bất đắc dĩ và một kẻ chiến bại muôn đời. Thế nhưng khi người dân hiểu được quyền của mình họ sẽ không còn sợ nữa.Đó là quyền con người mà bất cứ một thể chế chính trị nào cũng phải tuân thủ. Cái này oái ăm thay người dân Việt nam lại chậm chạp hơn cả người dân Campuchia,nước mà họ đã giúp thoát ra khỏi họa diệt chủng.Blogger Tưởng Năng Tiến kể lại trong bài viết: http://www.danchimviet.info/…/cha%C…/2015/06/comment-page-1… về hai người Việt gặp ông trên xứ Khme đã tặng ông chiếc áo có in dòng chữ:"The existence of an independent judiciary leads to the respect for human rights."Một ngành tư pháp độc lập dẫn đến sự tôn trọng nhân quyền. Đoạn trích sau đây trong bài đã cho thấy người Khme đã vượt qua nỗi sợ muôn đời: - Bộ tụi bay làm chính trị hả? - Trời, nói sao ghe thấy ghê vậy chú. Tụi con làm nhân viên cho hội thiện nguyện, đi cổ vũ cho nhân quyền thôi chớ có chính trị/chính em khỉ mốc gì. Ở Cambodia, đòi hỏi nhân quyền là chuyện nhỏ mà. Rồi không nói không rằng hai thằng lấy một cái áo, xoay phía sau ra trước, xong tròng đại vô người tôi. Tụi nó còn bắt tôi đứng chụp một cái hình kỷ niệm chơi nữa. Tui giẫy đành đạch: - Mặc cái áo “nhậy cảm” này công an Cambodia nó hốt liền chớ không phải “chuyện nhỏ” đâu à nha. - Không dám hốt đâu. Nam Vang chớ có phải Sài Gòn hay Hà Nội sao mà có cái vụ hốt sảng như vậy. - Thiệt không? - Thiệt chớ. Ở đây đỡ mệt hơn Việt Nam nhiều. Vừa bước chân qua tới Cambodia là tụi con đã thấy dễ thở liền hà, thoáng lắm chú ơi! - Thoáng là sao? - Là không có chế độ hộ khẩu, không công an khu vực, không tổ trưởng dân phố, cũng không có hội hè đoàn thể mẹ rượt nào hành dân hết ráo. Mình có quyền bầy tỏ chính kiến trong mọi vấn đề miễn là với thái độ ôn hoà … Vậy đó! Không ngờ rằng Việt nam đã thua hẳn người Campuchia trong vấn đề về nhân quyền.Bởi người Việt cái gì cũng sợ chính quyền,cái gì cũng sống chết mặc bay. Một luận điểm mà tôi hay gặp khi tranh luận trên mạng XH" Tụi bây chỉ được tài nói dóc ở nước ngoài.Hãy cứ thử về đây coi"Khi nói ra câu đó đám DLV đã tự vạch áo cho người ta thấy về một thể chế chính trị chà đạp lên luật pháp,chà đạp lên nhân quyền...Và bày ra tất cả sự ngu ngốc của minh Cái gốc của mọi nền tảng xã hội chính là pháp trị.Pháp trị là việc xử quan cũng như xử dân,không phân biệt.Người dân hoặc tội phạm không hề sợ án tử hình bất công nhưng lại sợ "tâm phục,khẩu phục" khi thấy một ông quan,con quan bị đem ra xử trước pháp luật ngang với dân thường.Đó cũng chính là điều mà Tào Tháo lấy để trị quân khi ngựa của chính ông cưỡi xéo phải lúa của dân.Bằng cách "cắt tóc,thay đầu" Tào Tháo đã khiến ba quân tâm phục khẩu phục. Như vậy chỉ khi nào người dân buộc chính quyền phải sợ mình thì lúc đó mới có một xã hội pháp trị nền tảng cho sự ổn định và phát triển xã hội.Muốn không sợ người dân phải tìm hiểu thật nhiều các kiến thức về nhân quyền để từ đó có thể đấu lý với những kẻ bảo vệ pháp luật.Khi ta có đầy đủ kiến thức ta sẽ có lập luận vững chắc,hiểu biết pháp luật ta sẽ cảm thấy tự tin không còn sợ cường quyền.Chế độ công an trị chỉ có thể cưỡng bức một vài cá nhân đơn lẻ thiếu hiểu biết về quyền của mình.Chúng không thể bất chấp dư luận khi người dân biết đoàn kết thành một khối,biết chia sẻ và hổ trợ cho nhau. Chúng chỉ có thể bắt chẹt,bắt nạt một người chứ không thể làm điều đó với nhiều người.Động chạm đến lòng căm thù,tạo ra bất công cũng có nghĩa là ngày tàn của chúng sắp điểm.Hãy vượt qua sợ hãi ,chỉ có thế mới có thể đứng thẳng làm người. Hình dưới: Blogger Tưởng Năng Tiến với chiếc áo mà ông được tặng ở Campuchia. Dương Hoài Linh's photo.

CÔNG ĐOÀN ĐỘC LẬP: KHÔNG NÊN LẠC QUAN QUÁ SỚM

Hôm qua mình có đăng bài viết về "Công đoàn độc lập" của ông Trần Ngọc Thành ,chủ tịch Ủy ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam để các bạn hiểu thêm về quá trình hình thành và phát triển của phong trào đấu tranh CNVN dưới chế độ CS.Gần đây trước thông tin là chính quyền đã gián tiếp công nhận "công đoàn độc lập",một trong những điều kiện để vào TPP.Qua đó nhà báo Phạm Chí Dũng cho rằng đây là một sự kiện mang tính lịch sử.Theo mình đây là một ý kiến lạc quan quá sớm.Xin nêu một số lý do sau đây: -1/Chế độ cộng sản hình thành từ giai cấp công nhân,với phong trào "vô sản hoá"những năm 1930 thế kỷ trước,kinh nghiệm về vận động công nhân họ hiểu rõ hơn ai hết.Bởi vậy chế độ luôn coi giai cấp công nhân là giai cấp tiên phong của CMVS và cũng là tử huyệt của chế độ. -2/Chính quyền cộng sản đã rút kinh nghiệm từ việc hình thành và phát triển của"Công đoàn Đoàn kết Ba Lan",một yếu tố chủ yếu để dẫn đến sự sụp đổ CNCS ở Đông Âu.Khi chấp nhận "CÔNG ĐOÀN ĐỘC LẬP" có nghĩa là họ đã tính sẵn phương cách đối phó. Sự đối phó của chính quyền theo mình nằm trong các ý sau: 1/Cố gắng trì hoãn,kéo dài càng lâu càng tốt việc thừa nhận tổ chức này.Theo việc ký kết TPP thời hạn này là 5 năm nhưng họ sẽ kéo dài thêm.Sau đó chỉ cho phép thành lập các tổ chức công đoàn độc lập cấp cơ sở,không thừa nhận một tổ chức độc lập với trung ương ngang bằng với Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam . 2/Thừa nhận sự độc lập trên danh nghĩa còn trong cơ cấu sẽ cài cắm người vào hoặc dùng phương pháp đe doạ và mua chuộc các lãnh đạo của công nhân.Về thực chất các phong trào đình công của CNVN đều do các nhóm lợi ích điều khiển. Công nhân tham gia vào phong trào dân chủ chỉ có lý tưởng nhưng các nhóm lợi ích lại có vũ lực và tiền bạc.Họ có thể bất đồng ,nhiều phe phái nhưng đều có chung một suy nghĩ là giữ bằng được chế độ này để làm giàu Không tin cứ nhìn vào cuộc bạo động hơn 10 ngàn người ở Bình Dương năm 2014 thì biết.Giai cấp công nhân đã bị các nhóm lợi ích nắm rất chắc.Do đó không nên lạc quan quá sớm. http://www.bbc.com/…/140514_binhduong_antichina_protests_tu…

THẾ NÀO LÀ GIẢI THIÊNG?

Giải thiêng là sự xóa bỏ tính chất thiêng liêng của một đối tượng nào đó, là làm cho hình tượng nào đó mất đi tính chất huyền thoại, sự trang nghiêm; làm mất đi giá trị, tư cách thần tượng, tính kiểu mẫu của đối tượng, khiến cho người ta không còn nể sợ, ngưỡng mộ, sùng bái, tin tưởng "đi theo" đối tượng đó nữa. Giải thiêng đi liền với hạ bệ, giải thiêng bằng cách hạ bệ, giải thiêng để lật đổ địa vị văn hóa xã hội, lịch sử của hình tượng, đối tượng nào đó, khiến cho nó bật ra khỏi niềm tin, tâm thức của người khác. Giải thiêng là một tiến trình cần thiết của lịch sử nhân loại để chuyển từ các chế độ thần quyền,vương quyền ,tập quyền...vốn sùng bái cá nhân sang các thể chế dân chủ. Giải thiêng là một quyền tự do ngôn luận.Và có nhiều phương cách giải thiêng khác nhau theo văn hóa dân gian và văn hóa bác học. Không nhất thiết việc giải thiêng phải đòi hỏi những ngôn từ trau chuốt,trí tuệ.Trong văn học dân gian Việt nam hiện tượng Trạng Quỳnh và Ba Gia- Tú Xuất là những lối giải thiêng của người dân đối với chế độ vương quyền.Gần đây là hiện tượng Các nhà báo Charlie Hebdo của nước Pháp. Thủ pháp châm biếm dân gian mang nhiều yếu tố tục chính là vũ khí đắc lực của họ. Hồ Chí Minh chỉ là một con người bình thường nhưng chế độ CSVN vì muốn giữ ngai vàng quyền lực nên đã làm cho nó trở nên linh thiêng.Vì vậy giải thiêng nhân vật Hồ Chí Minh là một việc làm cần thiết trong tiến trình đòi lại quyền tự quyết của người dân Việt nam Hiện tượng Nguyễn Lân Thắng xôn xao cộng đồng mạng những ngày vừa qua cũng nằm trong tiến trình đó.Nó hoàn toàn không ví phạm hiến pháp và luật pháp Việt nam.Và có lẻ chỉ có những Dư Luận Viên,Hồng Vệ binh,những con chiên ngoan đạo của tôn giáo CNCS mới còn mê muội không hiểu rõ điều này.

LUẬT PHÁP VỀ KHIÊU DÂM Ở MỸ

Hôm qua tôi có bỏ một video clip để nói về tình trạng "băng hoại đạo đức" trong một bộ phận giới trẻ nước ta.Một bạn comment nói rằng nhận định như vậy là khiên cưỡng,đó chỉ là "giáo dục giới tính" và thất vọng một người như DHL sống ở xứ tự do lại có những suy nghĩ cổ hủ như vậy.Tôi thấy các bạn đã có những suy nghĩ lầm lẫn tai hại về luật pháp nước Mỹ .Trong tình hình rất có nhiều bạn trẻ sang du học ở Mỹ ,đi làm thêm hoặc sinh hoạt ở đất Mỹ,những suy nghĩ như vậy sẽ khiến các bạn gặp rắc rối với luật pháp ở đất nước này Có một nghịch lý là những điều bạn tưởng không thể làm ở Việt Nam nhưng có thể làm ở nước Mỹ nhưng ngược lại những chuyện tưởng như bình thường ở quê nhà thì ở đây lại là phạm luật. Chẳng hạn ở Mỹ bạn có thể đem ông Washington,ông Obama hay cảnh sát Mỹ ra chửi"Fuck cop"...hoặc đạp lên lá cờ Mỹ mà không sợ bị bắt,cùng lắm người ta chỉ coi bạn có vấn đề về thần kinh nếu không đưa ra lý do hợp lý.Nhưng nếu bạn tổ chức chơi những trò phản cảm như đường link sau đây ,chỉ cần ít phút sau là đã có người gọi cảnh sát và họ chỉ nhắc nhở bạn lần thứ nhất ,lần thứ hai sẽ còng bạn về đồn và phải đóng tiền bảo lãnh. http://vietnamnet.vn/…/do-mat-khi-lam-nhan-vat-chinh-trong-… Tại sao? Đừng nghĩ Mỹ là nước sản xuất phim khiêu dâm hàng đầu mà cho rằng"khiêu dâm" ở Mỹ là tự do.Điều đó chỉ giới hạn trong những không gian riêng tư và phải là những người trên tuổi vị thành niên.Luật pháp Mỹ bảo hộ trẻ vị thành niên rất nghiêm ngặt ở những nơi công cộng. Khiêu dâm tức là kích thích ham muốn tình dục ở những nơi công cộng.Tất cả những hành động cọ xát nam nữ dẫn đến tình dục mà trẻ em có thể bắt gặp đều được coi là phạm luật.Nhiều sinh viên sang Mỹ đi làm thêm nghề Nails,chỉ cần massage trên khuỷu tay của một bé gái thôi nếu bị camera điện thoại của người mẹ ghi được cũng rất rắc rối,nếu trong người có cồn thì càng lôi thôi nữa. Cho nên những trò chơi như đặt bong bóng sau lưng người nữ rồi người nam ép sát cho nổ,gắn những mảnh vải trên người rồi bịt mắt tìm kiếm mà giới trẻ VN chơi phổ biến hiện nay đều có khả năng gợi dục với trẻ vị thành niên và bị coi là phạm luật.Ngay cả trường hợp để cậu nhỏ dựng đứng ở nơi công cộng ,hoặc ăn một quả chuối với vẻ mặt khiêu khích hoặc liếm mép.... Ở Mỹ, bên cạnh sử dụng pháo hoa, rượu lậu thì đồ chơi tình dục cũng có thể khiến bạn vào tù. Tại Alabama, việc buôn bán bất cứ thứ gì liên quan đến kích dục cho con người đều bị cho là vi phạm pháp luật' thậm chí còn kỳ lạ hơn là luật lệ này không phải là tàn tích của lễ giáo mà mới được thông qua vào năm 1998. Một trong những đạo luật còn sót lại ở Wisconsin là: 'Bất cứ người nào có hình vẽ hay viết mang tính chất kiêu dâm, đồi trụy công khai nơi công cộng đều được xem là hành vi phạm tội mức C'. Tốt nhất là kiếm một cái phòng nếu muốn mây mưa khi bạn đến Michigan. Mọi hành động tình tứ công khai đều bị cấm vì họ xem đó là khởi nguồn của việc khiêu dâm. Điều luật thậm chí áp dụng với những người đã kết hôn! Cơ quan lập pháp của bang Tennessee đã dùng một thuật ngữ 'hành vi sàm sỡ' ám chỉ hành động chạm vào người khác để thỏa mãn dục vọng. Lý do là những hành động này luôn mở đầu cho những cuộc 'yêu' không lành mạnh tiếp theo.

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2015

THẮP NÉN HƯƠNG NHÂN NGÀY GIỖ TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU

Ngày 29-9 năm nay đã là ngày giỗ thứ 14 của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Cho tới trước khi chết ông vẫn cúi đầu nhận chịu trách nhiệm đã làm cho mất nước, một lỗi lầm quá to lớn mà cá nhân một người không thể nào gánh vác. Nếu có một người nào đó đứng ra nhận chịu thì quả là vô lý, thế nhưng ông Nguyễn Văn Thiệu đã làm. Phải chăng là Mỹ bỏ rơi ? Kể từ ngày lập quốc, nước Mỹ thực sự sụp đổ vào năm 1975 với 3 triệu cựu chiến binh tại chiến trường Việt Nam, 58 ngàn người đã chết, và 3.000 quân nhân còn mất tích. Xã hội Mỹ phân hóa trầm trọng với tranh cãi đổ lỗi cho nhau. Chính vì vậy mà những người quân nhân VNCH không bao giờ động chạm tới nỗi đau của người bạn chiến đấu Mỹ, họ đã làm hết sức của họ rồi, họ đã phải chết tới 58.000 người và đã hao tốn 300 tỉ USD, lại còn phải nuôi 3 triệu cựu chiến binh Mỹ mà người nào cuộc đời cũng tan nát do bị khủng hoảng, bị thất bại vì không thể trở lại trường để làm lại cuộc đời. Hai chữ “bỏ rơi” là do BBC và RFI dùng để xoa dịu sự oán hận của người Việt sau khi Mỹ cắt ông tiếp huyết cho VNCH. “Bỏ rơi đồng minh” khác với “phản bội đồng minh”. Bỏ rơi có nghĩa là tôi thích thì tôi giúp, khi thấy mệt mõi quá thì tôi không giúp nữa. Còn phản bội là phỉnh gạt, lừa đảo. Cho nên người Mỹ muốn nhận là họ bỏ rơi VNCH còn hơn là nhận phản bội VNCH. Năm 1968 anh sinh viên Frank Snepp quyết định làm đơn xin đầu quân vào CIA để tránh khỏi phải đi lính và chiến đấu tại VN. Năm 1969 Snepp bắt đầu làm viêc tại chi nhánh CIA tại Sài Gòn trong tư thế một nhân viên mới vào nghề. Năm 1971 ông trở về Trung tâm CIA tại Mỹ với nhiệm vụ phân tích những tin tức thu thập từ báo chí của Bắc Việt. ADVERTISEMENT Đến năm 1972 ông bị đày đi VN vì tội đã báo trực tiếp cho Tòa Bạch Ốc một thông tin ông đọc được trên báo của Hà Nội mà không qua các xếp lớn của CIA. Nhiệm vụ lần thứ hai của Frank Snepp tại Việt Nam là đọc báo và nghe đài phát thanh của CSVN và VNCH để trình cho Polgar, trưởng CIA tại Sài Gòn, những tin nào mà ông ta thấy đáng quan tâm. Sau biến cố 1975 Frank Snepp quyết định viết thành sách về những gì ông chứng kiến trong vai trò một nhân viên CIA làm việc tại VN trong giai đoạn Hoa Kỳ cuốn cờ ra khỏi Việt Nam. Nhờ đó ông nhanh chóng trở thành nhân chứng sống duy nhất dám tiết lộ những bí mật mà một nhân viên CIA không được phép tiết lộ. CIA đã đưa ông ra tòa vì ông đã hành động trái với lời tuyên thệ khi ông bước chân vào tổ chức CIA. Tòa án đã phán quyết Frank Snepp không bị tội tiết lộ bí mật nghiệp vụ nhưng cũng quyết định cho thu hồi quyển sách “Decent Interval” của Frank Snepp. Tuy nhiên phán quyết này chỉ có hiệu lực hình thức bởi vì cả thế giới đều đã đọc Decent Interval. Theo Frank Snepp thì mọi chuyện đều bắt đầu từ khi ký kết Hiệp định Paris. Rồi 3 tháng sau khi ký kết hiệp định, Tổng thống Nixon cử Martin làm đại sứ Mỹ tại VN thay Bunker.Frank Snepp mô tả vai trò của Đại sứ Martin : “Mỹ buộc phải bò khỏi Việt Nam trong tư thế đường hoàng, và muốn tạo được ấn tượng như vậy thì cần phải có một chuyên gia về ảo thuật và kịch nghệ mà Martin thuộc vào hạng sư phụ. ( Trang 75, nguyên văn : “The United States was obliged to crawl out of Vietnam standing up, and to foster that illusion required the kind of conjuring and stagecraft at which Martin so adept” ). Như vậy màn kịch bỏ rơi Việt Nam đã được lên giàn từ tháng 4 năm 1973. Nixon thất hứa với Liên Xô, tháng 8 năm 1974 Năm 1974, giữa năm, Tổng thống Mỹ Nixon đệ trình Quốc hội Mỹ bản dự thảo hiệp ước giao thương giữa Mỹ và Liên Xô. Đến lúc này Quốc hội Mỹ mới biết rằng đây là cái giá mà Nixon đã trả cho việc Liên Xô ngưng cung cấp vũ khí cho Hà Nội và ép Hà Nội phải ký hiệp ước ngưng bắn 1973. Dĩ nhiên khi đưa ra trước Quốc hội, Nixon tin rằng sẽ được thông qua dễ dàng vì lợi ích chung của cả hai nước, nhất là từng bước giải quyết chiến tranh lạnh là điều mà dân chúng Hoa Kỳ mong chờ. Tuy nhiên ông đã tính lầm , Quốc hội Mỹ đoán rằng còn nhiều cái giá khác nữa giữa Nixon và Liên Xô, Trung Quốc, Hà Nội vào năm 1972. Vì vậy Quốc hội bác bỏ thẳng thừng hiệp ước thương mại Xô – Mỹ để buộc Nixon phải lòi ra những thỏa thuận khác. Dĩ nhiên là Nixon không đưa ra, ông dùng đặc quyền hành pháp để từ chối. Vì vậy Quốc hội có một cách khác để moi ra những gì mà Nixon đã cam kết với LX, TQ và Hà Nội vào năm 1972; đó là cách lợi dụng vụ Watergate để triệu tập một Ủy ban điều tra đặc biệt về sai phạm của Nixon trong vụ nghe lén, nhờ đó công tố viên của ủy ban điều tra có quyền bắt Nixon phải đưa ra tất cả những cam kết ngầm với Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa, và cả Hà Nội. Nixon chỉ còn có cách từ chức để né tránh Ủy ban điều tra bởi vì ông và Kissinger đã có những thỏa thuận mật với đối phương mà không xin phép Quốc hội. Một khi ông từ chức thì những cam kết của ông trở thành vô hiệu lực. Quốc hội sẽ không còn cớ để truy xét. Sau khi Nixon từ chức thì Quốc hội Hoa Kỳ cho thông qua đạo luật cấm HK buôn bán với các nước Cọng sản vào cuối năm 1974 ( Đạo luật Jackson-Vanik ). Sự trở mặt của Quốc hội Mỹ đã khiến Liên Xô tức giận bởi vì những cam kết của Nixon khi ông ta viếng thăm Liên xô vào năm 1972 đã không được thi hành. Vì vậy, cuối năm 1974, Đại tướng Kulikov của Liên Xô đến Hà Nội để xúi Hà Nội đưa quân đánh chiếm Miền Nam, Liên Xô sẽ cung cấp vũ khí và chiến phí. Hà Nội cay đắng Theo như 7 mục, 23 điều khoản của Hiệp định Paris thì Hà Nội ngưng bắn vô điều kiện, trao trả cho Mỹ 591 tù binh Mỹ vô kiện, trao trả tù binh VNCH để đổi lại VNCH trao trả 28 ngàn tù binh Bắc Việt. Trong khi đó Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu không phải từ chức, 38 ngàn tù chính trị của mặt trận GPMN vẫn tiếp tục bị giam giữ. Đặc biệt là “ngưng chiến da beo”, nghĩa là quân đội CSVN vẫn ở trên rừng và quân đội VNCH kiểm soát thành thị và thôn quê Nam Việt Nam. Biên giới hai miền Nam Bắc vẫn được tôn trọng theo như Hiệp định Geneve 1954. Nhìn bề mặt của Hiệp định Paris quá vô lý cho nên giới quan sát quốc tế thừa biết bên trong phải có một mật ước riêng. Quả nhiên sau này vào năm 1977 Tổng thống Cater của Mỹ xác nhận có một mật ước riêng đằng sau Hiệp định Paris được Nixon ký với Hà Nội 4 ngày sau khi ký kết Hiệp định Paris 1973. Và tháng 10 năm 1988 Hà Nội cho công bố toàn văn bản mật ước Nixon-Phạm Văn Đồng. Theo đó thì Nixon hứa sẽ viện trợ tái thiết cho Bắc Việt 3,25 tỉ USD, và viện trợ phát triển kinh tế cho Hà Nội 1,5 tỉ USD. Trong vòng 30 ngày sau khi người tù binh HK cuối cùng rời khỏi VN thì hai bên sẽ thiết lập xong hệ thống viện trợ tái thiết, và trong vòng 60 ngày sau đó thì lập xong hệ thống viện trợ phát triển kinh tế. Bản mật ước do đích thân Kissinger mang tới Hà Nội cho Phạm Văn Đồng ký nhận. Từ đó Lê Duẩn ngày đêm trông chờ món tiền của Kissnger. Nhưng đến nay, cuối năm 1974, Liên Xô cử tướng Kulikov sang Hà Nội xúi Lê Duẩn đánh chiếm Miền Nam thì có nghĩa là Hiệp định Paris coi như tờ giấy lộn. Rốt cuộc Hà Nội biếu không 591 tù binh Hoa Kỳ mà chẳng nhận được đồng nào, suốt 10 năm chiến đấu gian khổ, hằng triệu người chết, hằng chục tỉ dô la nợ chiến phí… đến nay chỉ còn là con số không ( sic ). Tướng Kulikov xúi Hà Nội phát động chiến tranh trở lại; nhưng Lê Duẩn và tập đoàn lãnh đạo CSVN thực sự trắng mắt. Dân chúng Miền Bắc đã kiệt sức, trong 5 năm nay, nhà nước đã đóng cửa tất cả 18 trường đại học và cao đẳng, bòn vét nhân lực đến độ phải gọi lính ở tuổi 16, tại Miền Bắc chỉ còn một trời đàn bà góa… thì lấy đâu để gây chiến tranh trở lại (sic). *( Theo hồi ký của tướng CSVN Hoàng Văn Thái thì cho tới năm 1974 Hà Nội đã động viên đến 16% dân số, không thể nào động viên thêm được nữa. Trong khi Miền Nam là 5,88% ) Hết đạn và hết nhiên liệu Bắt đầu từ năm 1975 Tướng Cao Văn Viên Viên viết tường trình cho Ngũ Giác Đài về những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam nhưng đến năm 1983 mới được in thành sách với tựa đề “The Final Collapse”. Và hai mươi năm sau, 2003, The Final Collapse được nhà nghiên cứu sử Nguyễn Kỳ Phong dịch ra tiếng Việt với tựa đề “Những ngày cuối của Việt Nam Cọng Hòa”. Trong sách có kèm theo những chú giải mới nhất của Tướng Cao Văn Viên. “Một sự thực không thể chối cãi là quân đội VNCH sẽ hết đạn và nhiên liệu vào tháng 6 năm 1975…” ( Tài liệu của Ngũ Giác Đài : Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong trang 136 ). Năm 1974, tháng Giêng. Tài liệu của CIA : “Từ cuối tháng 12-1973 đến đầu tháng Giêng 1974 Tướng John Murray và ban tham mưu của ông đã làm việc ngày đêm để cố gắng tìm đáp số cho bài toán viện trợ quân sự. Nhưng mỗi lần họ tìm ra một giải pháp để giải quyết vấn đề thì lại phát sinh một vấn đề khác mà kết quả cũng chỉ đưa tới bí lối” ( Frank Snepp, Decent Interval, trang 95 ). Tướng Jhon Murray là Tư lệnh cuối cùng của quân đội Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam. Ông đến Việt Nam sau Hiệp định Paris 1973, sang đầu năm 1974 ông và Bộ tham mưu Hoa Kỳ tại Việt Nam phải tính toán sổ sách về viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam trong nửa cuối 1974 và đầu năm 1975. Tuy nhiên Ngũ Giác Đài đã cho ông biết trước là có thể dưới 700 triệu đô la; nhưng theo các chuyên viên tham mưu của John Murray thì 700 triệu chỉ đủ giữ được Vùng 4. Năm 1974. Cũng theo Frank Snepp, ngày 16-8 John Murray họp buổi họp chót với Tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng; Tướng Đồng Văn Khuyên, Tổng cục trưởng Tổng cục Tiếp vận và một số tướng lãnh của Bộ TTM. John Murray khuyên Tướng Viên nên liệu cơm gắp mắm, gấp rút lên kế hoạch sẵn sàng bỏ Vùng 1, Vùng 2, và cả Vùng 3 để về cố thủ Vùng 4. Tuy nhiên “Tướng Viên lẫn Tướng Khuyên đều nói rằng lên kế hoạch về quân sự thì được, nhưng về mặt chính trị thì không thể nào thi hành nổi”. Sau buổi họp này thì John Murray giải ngũ, trở về Hoa Kỳ. Năm 1974, tháng 5. Theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, Bộ trưởng Bộ kế hoạch của VNCH thì ông đã tình cờ trông thấy bản kế hoạch “cắt đất theo lượng viện trợ” của Murray nằm trên bàn của Tổng thống Thiệu vào tháng 5 năm 1974, nghĩa là 2 tháng trước khi Nixon từ chức. Như vậy Murray chính là tác giả của kế hoạch bỏ Vùng 1, Vùng 2 vào năm 1975, một kế hoạch mà cho tới 40 năm sau người ta vẫn cho là sáng kiến ( tối kiến ) của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Sự thực Tổng thống đã bị báo chí Mỹ cố tình gieo tiếng oan mà lúc đó ông không thể lên tiếng thanh minh. Năm 1974, ngày 24-12. Theo hồi ký của Đại tá Phạm Bá Hoa : Ngày 24-12-1974, lúc quân CSVN đang tấn công Phước Long sang ngày thứ 10; một buổi tiệc mừng Giáng sinh được Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham mưu trưởng bộ Tổng tham mưu, tổ chức trên lầu của Câu lạc Bộ trong BTTM. Khách tham dự gồm có Tướng Smith, Chỉ huy trưởng cơ quan quân sự HK tại VN; Tướng Quân y Phạm Hà Thanh; Tướng Công binh Nguyễn Văn Chức; Đại tá Phạm Kỳ Loan, Tổng cục phó Tiếp vận; Đại tá Phạm Bá Hoa, Tham mưu trưởng Tổng cục Tiếp vận; Đại tá Pelosky, Phụ tá của Tướng Smith; Trung tá Nguyễn Đình Bá, Chánh văn phòng của Tướng Khuyên : Thiếu tướng Smith tiết lộ rằng : “Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ có kế hoạch với ngân khoản dự trù hơn 300 triệu Mỹ kim để di tản sang Hoa Kỳ khoảng 40 ngàn sĩ quan và gia đình, nhưng thời gian thì chưa rõ” (Phạm Bá Hoa, Đôi Dòng Ghi Nhớ, Bản in lần 4, trang 264 ). Khi sách của Phạm Bá Hoa phát hành thì tất cả các nhân vật trong bữa tiệc đều còn sống mạnh khỏe nhưng không có ai phản đối, kể cả tướng Smith; chứng tỏ chuyện này hoàn toàn có thật. Như vậy là kịch bản bỏ rơi Miền Nam đã được lên giàn trước khi mất Phước Long chứ không phải là sau khi mất Ban Mê Thuột. Người ta đã tính toán sẵn kế hoạch để cho VNCH sụp đổ trước tháng 6 năm 1975, kể cả ước tính trước ngân sách chi dụng cho kế hoạch. Năm 1975, ngày 7-1, Phản ứng của Mỹ sau khi mất Phước Long là : “Nhà Trắng nói rằng : Tổng thống Pho không có ý vi phạm những điều cấm chỉ ( của Quốc hội ) về việc sử dụng lực lượng quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam” ( Hồi ký của Tướng CSVN Hoàng Văn Thái, trang 161 ). Khi vừa nghe tin này Phạm Văn Đồng tuyên bố : “Cho kẹo quân Mỹ cũng không dám trở lại VN”(trang 146). Ngay sau khi nhận được tin, Lê Duẩn chỉ thị cho Đại tướng Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái lên kế hoạch tiến chiếm miền Nam : “Một tháng sau chiến thắng Phước Long, ngày 5 tháng 2, anh Văn Tiến Dũng lên đường vào Tây Nguyên” ( Hoàng Văn Thái, trang 172). Ngày đó cơ quan USIS của CIA tung tin quân VNCH thua tại Phước Long là do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cố tình bỏ Phước Long để thử xem phản ứng của Mỹ. Sở dĩ CIA đổ cho Nguyễn Văn Thiệu là để Quốc hội Mỹ có cớ biểu quyết ngưng viện trợ quân sự cho VNCH. Và tình hình thực sự vào tháng 3 năm 1975 : – Tuần đầu của tháng 3 năm 1975. Trong một cuộc họp đầu tuần của Bộ Ngoại giao HK, Kissinger đã giải thích hành động viện trợ “lấy có” cho Cam Bốt: “Chính phủ Lon Nol đang trên đà sụp đổ, đây là nguyên do chính khiến chúng ta phải tiếp tục viện trợ để cho sau này không ai có thể trách chúng ta vô trách nhiệm”.( Frank Snepp, Decent Interval, trang 175 ). *( Nguyên văn : “…he say, the Lon Nol Government was on the brink of collapse, it was essential to keep open the aid pipeline so no one could later blame the United States for the disaster” ). – Ngày 7-3-1975, Kissinger chỉ thị cho các viên chức Ngoại giao HK trước khi ông ta lên đường đi Trung Đông : “Hãy làm mọi cách để Quốc hội tiếp tục duy trì viện trợ ( lấy có ) cho Cam Bốt và Việt Nam. Không phải để cứu vãn hai nước đó, mà vì không thể nào cứu vãn được hai nước đó” ( Frank Snepp, Decent Interval trang 176 ). *( Nguyên Văn : Do every thing possible to ensure that Congress lived up our aid commitments to Cambodia and Vietnam- not because the two countries were necessarily salvageable, but precisely because they might not be ). Hai ngày sau khi Kissinger nói cậu này thì Văn Tiến Dũng ra lệnh tấn công Ban Mê Thuột. Kissinger không muốn thiên hạ nghĩ rằng Việt Nam sụp đổ do không còn viện trợ. Và với mức độ viện trợ nhỏ giọt thì đến ngày 30-6-1975 quân đội VNCH sẽ không còn gạo và không còn đạn ( Tài liệu The Final Cllapse của Tướng Cao Văn Viên ). Vì thế Kissinger mong cho Quân đội VNCH tự tan rã trước khi hết gạo và đạn trước tháng Sáu năm 1975. Lúc đó thiên hạ sẽ nghĩ rằng quân đội Sài Gòn đã thua chạy trước sức tiến công vũ bão của quân Hà Nội. Thế bắt buộc của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu Năm 1975, ngày 11-3, một ngày sau khi mất Ban Mê Thuột. Theo Tướng Cao Văn Viên: Ngày 11-3 Tướng Thiệu mời các Tướng Khiêm, Viên, Quang ăn sáng tại dinh Độc Lập và sau đó trình bày ý định muốn cắt bỏ bớt lãnh thổ cho vừa với mức viện trợ quân sự của HK vào năm 1975. Tướng Viên ghi lại cảm nghĩ của ông lúc đó : “Quyết định của Tổng thống Thiệu cho chúng tôi thấy đây là một quyết định ông đã suy xét thận trọng. Hình như Tổng thống Thiệu đã ngần ngại về quyết định đó, và bây giờ ông chỉ thổ lộ cho ba người chúng tôi trong bữa ăn sáng…” “… Tổng thống Thiệu phác họa sơ : …Một vài phần đất quan trọng đang bị Cọng sản chiếm, chúng ta sẽ cố gắng lấy lại bằng mọi giá… …Ban Mê Thuột quan trọng hơn hai tỉnh Kontum và Pleiku nhập lại… …” ( Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong, trang 129-131 ). “Ngay sau khi Phước Long bị tấn công, Hoa Kỳ không có một phản ứng nào … . Một thực tế gần như hiển nhiên là Hoa Kỳ không muốn cuộc chiến tiếp tục, và biều quyết viện trợ để VNCH đánh tiếp là chuyện sẽ không xảy ra. Đối với Hoa Kỳ cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc” ( trang 132 ). Các đoạn trích dẫn trên đây đã giải thích vì sao Tổng thống Thiệu phải bỏ Vùng 1 cũng như Vùng 2. Và vì sao Tướng Viên không nhiệt tình tham gia kế hoạch của Tướng Thiệu. Cuối cùng, sau 30-4-1975 Mỹ mở chiến dịch đổ tội làm mất nước cho Tổng thống Thiệu để cho người ta không oán hận Mỹ đã bỏ rơi VNCH. Giờ đây đã 40 năm trôi qua, nếu người Mỹ không lên tiếng giải oan cho ông Nguyễn Văn Thiệu, thì cũng nên trả lại sự thật cho lịch sử. BÙI ANH TRINH

CHỚ ĐEM THÀNH BẠI LUẬN ANH HÙNG.

Hôm nay 29/9/2015 giờ nước Mỹ xin gởi một vài suy nghĩ đến các bạn nhân ngày giỗ thứ 14 của vị tổng thống mà tôi kính trọng,tổng thống và là vị tổng tư lệnh tối cao của Quân Lực VNCH-Nguyễn Văn Thiệu .Hôm qua tôi rất vui khi những tư liệu mà tôi chia sẻ qua một bài viết rất hay của một tác giả hải ngoại đã được các bạn đón nhận.Điều đó chứng tỏ dân trí của đất nước mình đang phát triển đến một tầm cao mới thông qua internet và mạng xã hội. Chắc các bạn cũng như tôi ,chúng ta không lạ gì hệ thống tuyên truyền của chế độ CSVN.Ngay từ nhỏ chúng ta đã được tiêm vào đầu những quan niệm về các lãnh đạo ,tướng lãnh miền Nam là một lũ tay sai bán nước,họ thường bị gọi một cách khinh miệt là "thằng này"" thằng nọ".Điều đó cũng giống như truyền thông của Bắc Triều Tiên gọi các tổng thống,tướng lãnh quân đội Nam Hàn bằng các từ ngữ như nguỵ,bù nhìn,bán nước...Đó là ngôn ngữ tuyên truyền.Kỳ thực thì ai mới xứng đáng với các từ ngữ đó chắc có lẻ các bạn rành hơn tôi.Điều tôi muốn đề cập trong bài viết này chính là các giá trị chân thực về phẩm chất mà một vị tổng thống của các nước dân chủ thường có trong các quyết định mang tính lịch sử,ảnh hưởng đến vận mệnh dân tộc. Thưa với các bạn rằng tổng thống các nước dân chủ không có một đội ngũ bồi bút luôn luôn làm nhiệm vụ tô vẽ như các hình ảnh lãnh tụ độc tài nên chân dung của họ không lung linh toả sáng lắm.Nhưng sự thật họ là những con người vì nước vì dân.Hiện nay xem các clip trên mạng các bạn cũng thấy Tổng thống VNCH Nguyễn văn Thiệu thường xuyên đi đến uỷ lạo binh sĩ các vùng chiến thuật,thăm hỏi đồng bào các vùng có chiến tranh.Cứ mỗi lần có chiến sự xảy ra là sau đó có mặt tổng thống,trong khi đó với điều kiện an ninh thời đó CS trà trộn vào trong dân,các âm mưu ám sát có thể xảy ra bất cứ lúc nào.Nhiều tướng lĩnh VNCH thường xuyên trực tiếp chiến đấu với binh sĩ như Đỗ Cao Trí, Ngô Quang Trưởng và nhiều tướng lãnh khác.Trong khi đó các lãnh tụ miền Bắc thì ngồi ở Phủ Chủ Tịch cho các nghệ sĩ vẽ chân dung,tạc tượng,tổng tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh như Võ Nguyên Giáp thì ngồi tuốt ngoài Bắc,chẳng hề bén mảng đến chiến trường. Nhưng khi cần họ có thể"Dù đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải quyết giành cho được độc lập",bởi vì dãy Trường Sơn cháy,lính và dân chết chứ họ đâu có chết.Vậy mà trong thơ ca luôn luôn là"Người là niềm tin tất thắng""Bác cùng chúng cháu hành quân"... Tôi không đồng ý với những nhận định cho rằng quyết định bỏ miền Nam là lỗi của TT Nguyễn Văn Thiệu,là quân đội VNCH hèn nhát không giữ được nền dân chủ,là Mỹ bỏ rơi VNCH...Ngay cả quan điểm cho rằng là tổng thống của một nước ông NVT phải tính toán để có thể dựa vào sức mình ,tự quyết trong chiến tranh chứ không thể chỉ dựa vào Mỹ .Quan điểm đó sai lầm hoàn toàn,nhiều nước hùng mạnh hiện nay như Nhật,Hàn Quốc...cũng dựa vào sức mạnh của liên minh quân sự với Mỹ,NATO. Tại sao?Bởi vì điều đó tạo ra sự giảm thiểu về chi phí ngân sách dành cho quốc phòng,khiến chính phủ có thể đầu tư cho an sinh xã hội của người dân.Do vậy nếu bây giờ giả sử Bắc Hàn đánh Nam Hàn,Trung Quốc đánh Nhật và Mỹ không trợ giúp thì với chủ trương hy sinh đến người dân cuối cùng của phe độc tài các nước Nhật ,Nam Hàn đến một lúc nào đó hết đạn cũng phải giải giáp để đảm bảo sinh mạng người dân.Đó là điểm khác nhau căn bản giữa lãnh đạo một nước dân chủ và một nước độc tài. Huống chi VNCH trước 30/4/1975 là một nền dân chủ non trẻ mới chỉ 20 năm.VNCH tiến hành chiến tranh trong điều kiện người dân miền Nam vẫn có ruộng cày,vẫn có cơm trắng cá tươi để ăn và không bị bóc lột bởi chính sách thuế khóa nặng nề ,động viên lính chỉ 5%.Trong khi đó ở miền Bắc là một chiến dịch "tất cả cho tiền tuyến""thắt lưng buộc bụng",huy động lính đến 16% chưa kể đến mức viện trợ súng đạn từ Trung quốc và Liên Xô không thua kém mức viện trợ từ Mỹ dành cho miền Nam. Nói quân đội VNCH hèn nhát chẳng khác gì phủ nhận sự hy sinh của người lính VNCH qua hai đợt phản công quyết liệt vào Tết mậu Thân năm 1968,mùa hè đỏ lửa 1972 tiến chiếm lại lãnh thổ và đẩy cộng quân lên rừng về bên kia vĩ tuyến 17.Nếu năm 1975 quân đội VNCH có đầy đủ vũ khí không bị hết đạn đến tháng 6/1975 theo dự tính của Bộ Tổng Tham mưu thì nhất định các vùng bị mất sẽ được phản công để lấy lại hoặc ít nhất Sài gòn sẽ được tử thủ như Xuân Lộc. Nhưng khi Mỹ đã bỏ miền Nam thì hành động tử thủ sẽ khiến dân miền Nam bị trả thù như trường hợp người dân Đồng nai,khiến cuộc chiến đẫm máu hơn ,người lính cả hai phía sẽ chết nhiều hơn và nước Việt nam hậu chiến sẽ kiệt quệ hơn.Do vậy quyết định giải giáp là một quyết định nhân bản và khôn ngoan của TT Nguyễn Văn Thiệu. Nói rằng Mỹ đã bỏ rơi VNCH cũng không chính xác vì họ đã tốn quá nhiều nhân lực,vật lực vào cuộc chiến Việt nam mà chẳng thu về bất cứ lợi ích nào.Chính xác hơn tôi đồng ý với nhà văn Dương Thu Hương rằng lỗi chủ yếu là do người CS đã đem một chủ thuyết tà đạo vào mê hoặc người dân Việt nam dưới cái lốt đấu tranh giành độc lập,tự do.Chẳng có một cái độc lập tự do nào cả như Đặng Thùy Trâm,Nguyễn Văn Thạc,Dương Hương Ly...như các chiến sĩ biệt động thành,du kích,đặc công...lầm tưởng.Đấy là cái tôn giáo mà các giáo chủ CSVN mang từ nước ngoài về để khiến cả dân tộc nồi da xáo thịt,anh em giết nhau.Trong hoàn cảnh anh quá bị kích động,quá lú lẫn tôi phải buông súng để chúng ta khỏi phải giết nhau chứ không phải tôi thua anh,tôi bại trận.Đó là cái lý lẻ của một cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Năm 1990,mười lăm năm sau ngày mất miền nam,TT NVT cũng đã tái xuất trở lại để nói về quyền tự quyết của dân tộc Việt nam.Và tôi thông cảm những điều ông nói.Trên cương vị lãnh đạo quốc gia ở vào thời điểm đó ông chẳng thể làm khác.Dù sao ,ông cũng hơn hẳn các lãnh tụ miền bắc về sự liêm chính,trung thực khi chẳng cần tô vẽ cho mình.Khi số vàng 16 tấn tài sản quốc gia chẳng phải do ông mang đi,khi ngôi nhà mà ông xây cho cha mẹ ông ở quê nhà rất đổi giản dị bình thường so với những gì mà một TT VNCH có thể làm.Ông chẳng cần lên gân"Bác để tình thương cho chúng con.Một đời thanh bạch chẳng vàng son" trong khi thực tế lại tốn biết bao tiền của dân vào ướp xác,vào xây lăng,vào 10.000 người bảo vệ lăng và hàng chục ,hàng trăm nhà bảo tàng trên khắp cả nước. Ông ra đi một cách lặng lẽ như cuộc sống của ông lúc cuối đời,để lại biết bao nỗi oan mà ông không cần phân giải.Và vợ ông bà Nguyễn Thị Mai Anh vẫn âm thầm thay ông làm công tác từ thiện mà không cần bất cứ ai biết đến. Hôm nay đây,tôi rất hạnh phúc khi trong danh sách Friend List của mình có cả người lính của cả hai phía.Đó là những người lính từng tham gia vào Mùa hè đỏ lửa,vào chiến dịch HCM...từng chiến đấu ở mặt trận Hoàng Cơ Minh,hoặc chiến tranh Biên Giới với Trung Quốc,với Campuchia...Tôi hạnh phúc vì họ đã nhận ra được chân giá trị đích thực.Những người lính CS đã thấy rõ họ bị lừa và người lính VNCH đã thấy những sự hy sinh của mình không hề uổng phí.Cả hai phía đã có thể ngồi lại với nhau để cùng nhìn về một hướng.Hướng đó hôm nay họ lại là những người lính cùng một chiến tuyến và phía bên kia lại là những kẻ độc tài.Họ không hề phân ai thắng ,ai bại mà cùng nhất trí rằng tạm thời cả hai đều bại.Tuy nhiên cái bại của họ chỉ mang ý nghĩa lịch sử.Bởi trong cả chiều dài lịch sử vô tận,dân tộc mới trường cửu,chính quyền chỉ là nhất thời.Và nhất định sẽ có ngày họ sẽ chiến thắng bởi họ đều đứng về phía nhân dân,đó là một điều tất yếu"Chớ đem thành bại luận anh hùng".

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2015

NHÌN LẠI CUỘC CHIẾN NAM BẮC HÀN(1950-1953) VÀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM: TẠI SAO HOA KỲ VÀ VNCH KHÔNG ĐÁNH RA BẮC?

Trong các cuộc chiến tranh giữa thế giới tự do và thế giới CS,nếu thế giới tự do thắng,nhân dân nước đó dù thua vẫn có cơ hội làm lại.Ngược lại khi thế giới CS thắng thì người dân thuộc phe chiến thắng nói như nhà thơ Nguyễn Duy "vẫn là kẻ thất bại",điển hình đó là trường hợp nhân dân miền Bắc Việt Nam.Nếu ngày trước nếu VNCH vượt sông Bến Hải tiến công ra Bắc thì có lẻ nước VN dù rơi vào tình cảnh như nước Nhật (bị hai quả bom nguyên tử) cũng sẽ xuất hiện một thống tướng người Mỹ như MacArthur và 12 danh nhân VNCH khác để xây dựng nước VN trở thành một cường quốc như Nam Hàn.Tại sao VNCH không làm điều đó?Bên cạnh sự tôn trọng Hiệp định Geneva còn có những lý do khác. Tại Triều Tiên, Hoa Kỳ tấn công Bắc Triều Tiên để phòng thủ Nam Triều Tiên, tức Hoa Kỳ lấy công làm thủ. Tại Việt Nam, Hoa Kỳ không tấn công Bắc Việt Nam mà chỉ phòng thủ ở Nam Việt Nam, tức Hoa Kỳ lấy thủ làm thủ. Cả hai nước Triều Tiên và Việt Nam đều có biên giới giáp ranh với Trung Cộng ở phía bắc. Khi quân Bắc Triều Tiên tấn công Nam Triều Tiên năm 1950, quân đội Hoa Kỳ cùng quân đội Liên Hiệp Quốc giúp Nam Triều Tiên, đánh đuổi quân Bắc Triều Tiên đến sông Áp Lục (Yalu River), là biên giới với Trung Cộng. Quân Trung Cộng tràn qua giúp Bắc Triều Tiên. Sau ba năm đánh nhau qua lại, hai bên đình chiến năm 1953 ở vĩ tuyến 38, chia hai nước Triều Tiên. Vì vậy, khi tham chiến ở Việt Nam năm 1965, các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ bị ám ảnh bởi chiến tranh Triều Tiên. (Mark Moyar, Triumph Forsaken, The Vietnam War, 1954-1965, New York: Cambridge University Press, 2006, tr. 306.) Hoa Kỳ lo ngại nếu đánh ra Bắc Việt Nam, thì Trung Cộng sẽ can thiệp như ở Triều Tiên, nên tại Nam Việt Nam, Hoa Kỳ chủ trương chỉ phòng thủ ở Nam Việt Nam, phía nam đường phi quân sự ở vĩ tuyến 17, không tấn công ra Bắc Việt Nam, tránh đụng chạm đến Trung Cộng. Chiến lược phòng thủ của Hoa Kỳ có thể tóm gọn qua câu nói của đô đốc Grant Sharp, tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương 1964-1968: “Chính phủ chúng ta lập lại để làm rõ rằng những mục tiêu của chúng ta trong cuộc tranh chấp ở Việt Nam là giới hạn. Chúng ta không buộc phải tiêu diệt chế độ Hà Nội, không cưỡng ép dân chúng Bắc Việt Nam phải chấp nhận một hình thức chế độ khác và cũng không tàn phá Bắc Việt Nam. Chúng ta đơn giản muốn Bắc Việt Nam ngưng điều khiển và ngưng yểm trợ phiến quân Việt cộng ở miền Nam và đưa lực lượng của họ về nhà. Chiến lược điều khiển chiến tranh của chúng ta phản ảnh những mục tiêu giới hạn nầy.” (Nguyên văn: “Our Government has repeatedly made it clear that our objectives in the Vietnam conflict are limited. We are not ought to destroy the Hanoi regime, or to compel the people of North Vietnam to adopt another form of government, nor are we out to devastate North Vietnam. We simply want North Vietnam to cease its direction and support of the Vietcong insurgency in the South and take its forces home. Our strategy for the conduct of the war reflects these limited objectives.”) (William D. Pawley & Richard R. Tryon, Jr., “Why the Communists are Winning as of 1976 and How They Lost in 1990”, http://www.gratisbooks.com/, chữ khóa: “Getting bogged down in Vietnam”.) Do chủ trương chiến tranh giới hạn (limited war), bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đưa ra những “quy tắc tham chiến” (rules of engament) tức quy tắc quân đội ứng xử khi tham chiến ở NVN như một thứ cẩm nang, nhằm ngăn ngừa và giới hạn những ngẫu biến ở biên giới Hoa Việt hay vùng phi quân sự vĩ tuyến 17. Quy tắc tham chiến hạn chế các mục tiêu tấn công, và hạn chế các hoạt động của Không quân, giảm hỏa lực làm giảm sức mạnh quân đội Hoa Kỳ. Ai vi phạm, sẽ bị trừng phạt nặng. (ví dụ trường hợp đại tướng John Lavelle năm 1972.) “Những quy tắc nầy bảo đảm rằng chúng ta không thể thắng và cộng sản cũng không thể thất bại.” (Nguyên văn: “These rules insured that we could not win and that the communists could not lose.”) (Steve Farrell,Why We Lost in Vietnam – The Untold Story, University of Toronto, School of Continuimg Studies, The Moral Liberal. ) Thượng nghị sĩ đảng Cộng Hòa Barry Goldwater tuyên bố tại Taipei (Đài Bắc) khi đến Đài Loan viếng tang tổng thống Tưởng Giới Thạch, gọi đây là “chính sách không chiến thắng” (“no win policy”). (The Bryan Times, Thursday, April 17-4-1975.) Trong chiến tranh Nam Việt Nam, cộng sản Việt Nam sử dụng chiến thuật khủng bố và du kích. Quân du kích CS khủng bố, đánh phá khắp nơi trên toàn quốc, gây thiệt hại mỗi ngày một ít, mỗi nơi một ít, nhưng “tích tiểu thành đa”, lâu ngày làm hao mòn quân đội Nam Việt Nam và quân đội Hoa Kỳ. Thật rất khó chống lại du kích chiến, nhất là trong địa hình rừng núi như Việt Nam. (Ngày nay, người Mỹ tận dụng hết khả năng quân sự vẫn không chống lại được du kích Al-Qaeda, Taliban, Afghanistan.) Muốn chận đứng du kích CS ở Nam Việt Nam, chỉ có cách duy nhất là chận đứng ngay từ gốc, tức là hậu phương lớn của du kích CS, là Bắc Việt Nam, tức phải tấn công Bắc Việt Nam, mới chận đứng được du kích CS trên toàn cõi Nam Việt Nam. Như Hoa Kỳ đã từng đánh ra Bắc Triều Tiên trước đây mới chận đứng hẳn du kích CS ở Nam Triều Tiên. Vì không đánh ra Bắc Việt Nam để chận đứng du kích từ tận gốc, mà chỉ mở những cuộc hành quân bình định ở Nam Việt Nam và ngồi chờ du kích đến quấy phá mới phản công, nên dù trang bị tối tân, quân đội Nam Việt Nam và Hoa Kỳ không thể tiêu diệt hết khủng bố và du kích của CS ở Nam Việt Nam. Hoa Kỳ còn lo ngại quân đội Nam Việt Nam bất ngờ tấn công ra Bắc Việt Nam để giải tỏa áp lực của CS ở Nam Việt Nam, nên Hoa Kỳ ngăn chận tất cả những đề nghị từ phía Việt Nam Cộng Hòa tấn công ra Bắc Việt Nam. Ví dụ trong cuộc mít-tin tại Sài Gòn ngày 19-7-1964, kỷ niệm Ngày Quốc hận [ngày ký kết Hiệp địnhGenève 20-7-1954], trung tướng Nguyễn Khánh hô hào Bắc tiến. Đại sứ Maxwell Taylor và các viên chức Mỹ có mặt tại cuộc mít-tin tránh né không bình luận. (John S. Bowman, The Vietnam War, Day by Day, New York: Mallard Press, 1989, tr. 42.) Ngày 1-12-1965, trung tướng Nguyễn Chánh Thi gởi thư lên chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia là trung tướng Nguyễn Văn Thiệu đề nghị Bắc tiến; đồng thời tướng Thi còn gởi thư cho đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn công khai đề nghị Bắc tiến. (Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam, một trời tâm sự, California: Nxb. Anh Thư, 1987, tt. 319=344.) Năm 1972, trong mùa hè đỏ lửa. quân Bắc Việt Nam tràn qua vùng phi quân sự ở vĩ tuyến 17. Quân đoàn I đề nghị đưa quân vượt qua vĩ tuyến 17 đánh ngược ra Bắc. Được tin nầy, phía cố vấn Hoa Kỳ liền giới hạn cấp số xăng, cấp số đạn và ngưng tiếp tế lương khô cho Lữ đoàn 1 Kỵ binh Việt Nam Cộng Hòa nhằm chận đứng cuộc Bắc tiến. (Hà Mai Việt, Thép và Máu, Thiết giáp trong chiến tranh, Texas, 2005, tr. 103.) Với chiến lược phòng thủ tại NVN, quân đội Hoa Kỳ không thất bại, nhưng quân đội Hoa Kỳ cũng không chiến thắng, dậm chân tại chỗ.